Ta Là Phản Tặc Được Đám Khâm Phạm Nuôi Lớn - 4
Cập nhật lúc: 03/08/2026 18:01
Bọn họ đối xử tốt với ta, ta cũng nhớ phải đáp lễ.
Có được một nắm kẹo hạt thông, ta sẽ chia qua từng gian lao.
Mùa xuân hái được hoa dại, ta chọn những đóa đẹp nhất cắm trước gian lao của Thu nương.
Người thợ săn nhớ vợ con trong nhà, ta thay ông ấy đi một chuyến.
Khi trở về, không chỉ mang theo thư báo bình an, ta còn mang về một tượng đất do chính tay con ông ấy nặn.
Cha vẫn luôn nói trong thiên lao giam giữ toàn là phạm nhân, không cho phép ta quá gần gũi với bọn họ.
Nhưng mỗi lần tan việc, trong tay áo ông lúc nào cũng có thể lấy ra hai bức thư nhà, bảo ta lén mang ra ngoài.
Năm ta tám tuổi, người trong lao cuối cùng cũng phát hiện ta vẫn chưa biết chữ.
Nguyên nhân là đầu bếp nhận được một bức thư nhà, bảo ta đọc cho ông ấy nghe.
Ta trải thư trên đầu gối, ra vẻ đọc:
“Mọi chuyện trong nhà đều tốt, lợn tốt, gà tốt, con cái cũng tốt.”
Vành mắt đầu bếp vừa đỏ lên, lão tú tài biết chữ ở gian bên đã lập tức vạch mặt ta.
“Trên đó viết mẫu thân ngươi bệnh nặng, mau ch.óng trở về, lấy đâu ra lợn?”
Ta gấp thư lại, quay người bỏ chạy.
Người trong lao cười suốt ba ngày, ngay cả Chu tiên sinh ở tận sâu bên trong cũng biết chuyện.
Chu tiên sinh đã vào đây được nửa năm.
Tóc ông đã hoa râm, quanh năm mặc một bộ đạo bào cũ bạc màu.
Khi ngồi trên chiếu cỏ nhắm mắt dưỡng thần, quả thật có vài phần tiên phong đạo cốt.
Với điều kiện ông không mở miệng.
Lần đầu gặp ta, ông chê ta ăn làm rơi vụn khắp nơi.
Lần thứ hai gặp ta, ông lại chê ta cắm hoa dại trong chiếc bát vỡ, chẳng ra thể thống gì.
Ta cảm thấy tính khí ông rất xấu, nhưng cũng cảm thấy ông đáng thương.
Gian lao của ông nằm ở tận sâu bên trong, quanh năm không được ánh mặt trời chiếu tới, cũng không có ai đến thăm.
Mỗi lần đi qua, ta đều mang cho ông một ít thức ăn.
Có lúc là một chiếc màn thầu, có khi là một nắm lạc.
Ngoài miệng Chu tiên sinh luôn nói mình không ăn đồ bố thí.
Nhưng đến lần sau ta quay lại, ngay cả vỏ lạc cũng không còn.
Lần này, ta ôm bức thư nhà của đầu bếp chạy ngang cửa lao của ông, bị ông gọi lại.
“Qua đây.”
Ta giả vờ không nghe thấy.
Ông ném một hạt lạc trúng sau đầu ta.
“Đến chữ cũng không biết, vậy mà dám đọc thư cho người khác?”
Ta ôm đầu quay lại.
“Con biết chữ lợn.”
“Đó là chữ nhà.”
“Nhìn cũng gần giống nhau.”
Chu tiên sinh nhắm mắt lại, dường như bị ta chọc tức đến không muốn sống nữa.
Chiều hôm ấy, ông dùng vụn màn thầu còn thừa viết chữ “nhân” trên mặt đất, bảo ta viết theo.
Ta viết ba lần, trông giống như ba chiếc quần bị chẻ đôi.
Ông bảo ta viết lại.
Ta hỏi:
“Viết được thì có kẹo không?”
“Không có.”
“Vậy vì sao phải học?”
“Biết chữ, con có thể tự mình đọc thư.”
“Sau này người khác viết là nhà hay lợn, cũng không thể lừa được con.”
Câu này ta nghe hiểu.
Từ ngày ấy, mỗi ngày ta đều mang cho Chu tiên sinh một chiếc màn thầu.
Ông dạy ta nhận năm chữ.
Nếu ta học nhanh, ông sẽ để màn thầu lại đến tối mới ăn.
Nếu ta tiếp tục nhận chữ “nhà” thành chữ “lợn”, ông lập tức có thể bị chọc tức đến no bụng.
Cha nghe nói có người bằng lòng miễn phí dạy ta đọc chữ, vui đến mức ăn thêm một bát cơm.
“Dạy chữ là đại ân, không thể học không.”
Ông tìm ra hai gói trà, một xấp giấy Tuyên, lại cắt nửa miếng thịt muối đặt vào giỏ.
“Con hãy lén dập đầu với tiên sinh, sau này phải kính ông ấy như phu t.ử.”
Ta làm theo lời ông.
Chu tiên sinh lại nghiêng người tránh đi, không chịu nhận lễ, cũng không thừa nhận ta là học trò của ông.
Tối hôm ấy tan việc về nhà, ta mang nguyên chiếc giỏ trở lại.
Cha đang ngồi dưới đèn vá ống quần cho ta.
Nghe xong, ông c.ắ.n đứt sợi chỉ, im lặng hồi lâu.
“Ông ấy sợ liên lụy đến con.”
“Vì sao?”
“Bởi vì người ông ấy đắc tội, chúng ta không chọc nổi.”
Cha giũ chiếc quần ra xem, đường kim xiêu vẹo như con rết.
Ông ghét bỏ, xỏ chỉ lại, nói tiếp:
“Nhưng chữ cũng đã dạy, đầu con cũng đã dập, làm gì có đạo lý không chịu nhận?”
Ngày hôm sau, ông thay quan phục ngục đầu, xách giỏ lễ bái sư ấy, nghiêm chỉnh đi vào gian lao tận cùng.
Ta không biết hai người đã nói gì.
Nửa canh giờ sau, cha đi ra với hai tay trống không.
Chu tiên sinh nhận trà và giấy, thịt muối chỉ giữ lại một nửa, nửa còn lại bảo cha mang về bồi bổ cho ta.
Từ đó về sau, ta có một vị phu t.ử.
5
Nửa năm sau khi ta bái sư, lần đầu tiên có người đến thiên lao thăm Chu tiên sinh.
Người đến khoác một chiếc áo choàng đen, bên cạnh chỉ dẫn theo một lão bộc.
Cha đích thân kiểm tra văn thư, dẫn người vào gian lao tận cùng, lại điều toàn bộ ngục tốt đang trực ra tiền viện.
Ta ôm bát lạc vừa luộc chín từ phòng trực đi ra, vừa hay nhìn thấy dưới áo choàng lộ ra gương mặt của một thiếu niên.
Hắn có lẽ lớn hơn ta ba bốn tuổi, mắt mày rất đẹp, nhưng sắc mặt hơi tái nhợt.
Thiên lao quanh năm không thấy ánh sáng.
Lần đầu tiên nhìn thấy một người đẹp như vậy, ta nhất thời quên mất phải nhường đường.
Thiếu niên cũng dừng lại.
Chúng ta cách nhau nửa bước, nhìn nhau trong chốc lát.
Ta là người đầu tiên giấu bát lạc ra sau lưng.
Hắn hỏi:
“Vì sao phải giấu?”
“Bởi vì không đủ chia.”
Hắn lấy trong tay áo ra một miếng bánh hoa quế, đưa đến trước mặt ta.
“Vậy ta dùng cái này đổi với ngươi.”
Bánh hoa quế được gói trong giấy dầu, vẫn còn ấm.
