Ta Mở Tiệm, Kiếm Tiền, Cưới Tri Huyện - 49
Cập nhật lúc: 04/03/2026 06:09
49.
Chớp mắt, ta đã ở hậu viện nha môn được bảy ngày.
Suốt bảy ngày ấy, Du Hồng Linh mỗi ngày đều bắt ta làm mì lạnh cho bữa trưa.
Ta muốn đổi món để bồi bổ cho bà, bà lại nhất quyết không chịu, còn hừ hừ nói:
“Đợi ta ăn ngán rồi hãy đổi.”
Không còn cách, ta đành dồn tâm vào bữa sáng và bữa tối.
Nhưng ai ngờ từ khi ta đến đây, mỗi sáng bà đều ngủ đến tận giữa trưa; trang điểm xong lại ăn hai miếng dưa hấu ướp lạnh, vừa vặn lúc mì lạnh được dọn lên.
Đến tối thì bà lại lấy cớ giữ eo, chẳng chịu ăn, thi thoảng húp vài ngụm cháo đậu xanh đã than béo.
Vì thế, phần lớn những món ta nấu cuối cùng đều rơi vào bụng Lục Phỉ.
Do luật triều đình quy định, quan tri huyện khi đương chức không được mua đất, cất nhà ở nơi tri nhậm, nên huynh ấy vẫn ở trong hậu viện nha môn, ba bữa ăn đều dùng tại hoa sảnh.
Có lẽ vì quá mệt mỏi, hoặc đơn giản vì đã quen khẩu vị của ta nấu, nói tóm lại, hễ huynh ấy ngồi xuống là dọn đĩa trống trơn.
Ngay cả Du Hồng Linh cũng lấy làm lạ:
“Lục Thập Nhị à, bao năm nay Nương mới biết, hóa ra con là oan hồn đói đầu t.h.a.i đấy. Trước kia ta còn tưởng con là sao Văn Khúc giáng trần cơ!”
Mỗi lần bà châm chọc như thế, anh lại thản nhiên đáp trả:
“Mẫu thân, hôm nay ngài đọc sách chưa?”
Du Hồng Linh nghe câu đó liền tức tối quay đầu bỏ đi, miệng lẩm bẩm mắng.
“Ta là cái số gì đây chứ! Ở nhà họ Lục thì bị chính thất chèn ép, đến đây lại bị nhi t.ử chê bai.
Ta không tin đời ta lại không có ngày yên ổn!”
Qua những lần họ đấu khẩu, ta dần biết rõ chuyện nhà họ Lục.
Hóa ra Lục Phỉ xuất thân từ danh môn Lục thị ở Nam Dương, trong tộc xếp hàng thứ mười hai, nên người ta gọi là “Thập nhị lang”.
Phụ thân là tri phủ Nam Dương, chính thất là tiểu thư Thôi gia gia thế hiển hách, còn Du Hồng Linh chỉ là một trong các thiếp.
Nghe nói Thôi phu nhân tính tình cay nghiệt, đối với thiếp thất luôn là tay chân nặng nề, chỉ cần không vừa ý là quỳ miếu, quỳ đường một ngày một đêm.
Du Hồng Linh vì dung mạo xuất chúng, lại sinh được con trai, nên càng bị Thôi phu nhân xem như cái gai trong mắt.
Bà chịu đựng suốt hơn hai mươi năm, rốt cuộc cũng chờ được ngày Lục Phỉ đỗ tiến sĩ ra làm quan, thế là như “làm dâu khổ thành mẹ chồng”, bắt đầu ngẩng cao đầu trong phủ.
Chỉ là gần đây, bà với Thôi phu nhân cãi nhau một trận long trời lở đất; chịu không nổi uất ức, bà lén thuê xe, trốn khỏi phủ Nam Dương, một mình chạy tới Đường huyện nương nhờ con trai.
Bà… là bỏ trốn ra ngoài!
“Bảo ta ở nhà họ Lục làm lão thái thái sang trọng cái nỗi gì? Bị dày vò thêm mấy hôm nữa, chẳng phải ta mất mạng rồi sao?
Tất cả là do cái lão c.h.ế.t tiệt kia, tham lam tam thê tứ thiếp, hại ta khổ nửa đời!”
“…”
Lục Phỉ giờ đã là quan triều đình, từng lời từng cử đều bị soi mói. Nếu ai dâng sớ tố rằng mẹ ruột huynh ấy hành vi trái lễ giáo, huynh ấy có thể vì thế mà mất chức.
Ấy thế mà không hiểu huynh ấy xoay xở thế nào, cả tộc Lục ở Nam Dương đều đồng loạt giữ kín miệng, chỉ nói rằng:
“Các trưởng lão thương tình mẫu t.ử, nên đặc biệt cho Du di nương đến Đường huyện nghỉ dưỡng ít ngày.”
Ta nhìn là biết, Du Hồng Linh giờ chẳng còn chút ý định nào muốn quay lại Nam Dương nữa rồi.
Dạo này, Lục Phỉ đối với ta càng dễ chịu hơn nhiều.
Sáng nay trước khi ra cửa, huynh ấy còn đặc biệt dặn ta:
“Trưa nay làm món Sơn hải đấu t.ử nhé.”
Sơn hải đấu t.ử là món phải lấy vị tươi làm gốc, nên sau khi dọn xong bữa sáng, ta xách giỏ ra chợ.
Từ cửa nhỏ sau nha môn quẹo trái, đi qua mấy ngã rẽ là đến bến dỡ hàng nhỏ.
Bến ấy liền kề với đại lộ Xuân Thủy Kiều, hai bên toàn hàng quán chen chúc.
Ta mua của mấy người buôn rong: một cân măng tươi, ba cân rau dương xỉ, và một rổ tôm sống.
Trên đường về, thấy một bà lão tóc bạc trắng đang bán anh đào đỏ hái từ vườn nhà, ta lại bỏ thêm năm đồng, nhờ bà gói cho một phần bằng lá sen.
“Bánh nướng đây..bánh nướng mới ra lò đây…bánh cờ vây nóng hổi đây…”
Đối diện cổng nha môn, có người đàn ông đang đẩy xe rao bán bánh cờ vây, đặc sản của Đường huyện.
Ta không biết Lục Phỉ và Hồng di có thích ăn không, nhưng đã trông thấy rồi, không mua ít nhiều lại cứ ngứa ngáy trong lòng.
Thế là ta mua thêm một gói, tốn mười đồng nữa.
Mua xong xuôi, tiền trong túi cũng gần cạn, ta quay người định men theo ngõ nhỏ vòng về cửa sau.
Ai ngờ vừa nhấc chân, đã thấy bên tượng sư t.ử đá trước nha môn có một người thanh niên dáng thật thà, mặt mày ngượng nghịu, đang xoa tay đi qua đi lại.
“Tuyết Sinh ca, sao huynh lại ở đây? Có chuyện gì không?”
“Đậu Nha! Huynh… huynh nghe Vương đại bá nói muội giờ làm việc trong nha môn, nên tới tìm muội.”
Vừa thấy ta, mặt huynh ấy sáng lên, nhưng ngay sau đó lại cúi gằm, dáng như có chuyện khó nói.
Tôi đoán được tám chín phần, chỉ là ngại mở lời, bèn giả vờ ngơ ngác:
“Huynh tìm muội có việc gì thế?”
“Huynh thay nương ta đến xin lỗi muội. nương ta hồ đồ, ăn nói lung tung, muội đừng để bụng.
Muội là người tốt, huynh cứu muội… cũng không phải vì…, huynh nói dở lắm, tóm lại, muội đừng để tâm.
Sau này mà có gặp lại Nương của huynh, muội cứ làm như không thấy là được.”
“Thôi nào, Tuyết Sinh ca, huynh với muội từ nhỏ đã cùng nhau lên núi hái t.h.u.ố.c, đào bò cạp mà.
Huynh nói vậy lại xa lạ quá. Huynh cứu muội hai lần, dù Nương huynh có nói năng khó nghe, muội cũng không chấp đâu.”
“Thế thì tốt. À, muội… cái này muội cầm lấy.”
Nói rồi, anh dúi vội một gói gì đó nóng hổi vào giỏ ta.
Cúi xuống nhìn, ta suýt bật cười: lại là bánh cờ vây.
“Huynh giữ mà ăn đi, muội cũng vừa mua rồi.”
Ta nào dám nhận không của huynh ấy, huynh ấy làm công ở tiệm gạo, từng đồng bạc đều là mồ hôi đổ ra.
“Đây là quà xin lỗi, là thật lòng.”
Thấy ta không chịu, huynh ấy liền ấn c.h.ặ.t gói bánh vào giỏ, rồi nhân lúc ta ngẩn người mà quay đầu chạy biến, vừa chạy vừa la:
“Đậu Nha, muội đừng giận nhé!”
Tuyết Sinh ca vốn là người hiền lành, nếu không phải mang tiếng là con trai của góa phụ Tống, thì đã lấy vợ lâu rồi.
Nhưng bây giờ… có nhà nào chịu làm thông gia với một người nữ nhân mang tai tiếng như bà Tống chứ.
