Thập Niên 60: Xuyên Về Thời Bao Cấp Làm Vợ Đại Lão - Chương 1: Nghiêm Tuyết
Cập nhật lúc: 29/01/2026 10:00
Đầu tháng Một, đúng vào thời điểm rét mướt nhất trong năm.
Dù là ở trong Quan (vùng Trung Nguyên) khí hậu tương đối ấm áp hơn, nhưng tuyết rơi rồi tan, tan rồi lại rơi, vẫn tích tụ một lớp mỏng tang trên mặt đất, phủ kín con đường đất dẫn vào thôn.
Nghiêm Tuyết cõng chiếc gùi trên lưng bước vào từ đầu thôn, đã thấy không ít nhà nổi lửa nấu cơm chiều.
Nghiêm Gia Trang nơi cô sống không quá lớn, cả thôn trên dưới chưa đến hai trăm hộ dân. Trong thôn không có Hợp tác xã mua bán (Cung tiêu xã), muốn mua đồ hay bán nông sản thừa của nhà mình đều phải đi chợ phiên năm ngày một lần ở các thôn lân cận.
Hôm nay phiên chợ ở Đại Triệu Gia hơi xa, cả đi lẫn về ngót nghét hơn ba mươi dặm đường, khó tránh khỏi chậm trễ chút thời gian.
Nghiêm Tuyết giậm giậm lớp tuyết bám trên giày ở ngoài cổng, vừa bước vào sân đã thấy một bóng người thoăn thoắt như con khỉ từ trong cửa nhà mình vọt ra.
Khoảnh sân này của nhà họ Nghiêm khá khiêm tốn. Nhà chính có bốn gian, là nơi ở của gia đình tám người nhà bác cả Nghiêm và bà thím hai đang thủ tiết. Phía Đông có một gian rưỡi nhà chái là do cha Nghiêm xây thêm lúc kết hôn, hiện giờ Nghiêm Tuyết và em trai Nghiêm Kế Cương đang ở đó. Vì nhà nhỏ nên khoảng cách từ cửa ra đến cổng sân cũng chỉ tầm năm sáu mét.
Nghiêm Kế Tông, đứa con trai thứ ba mười một tuổi của bác cả Nghiêm, tay bám khung cửa, vẫn đang cười cợt nhả hét vọng vào bên trong:
“Mày... mày bớt học... học người khác nói chuyện đi ~ Tao... tao đâu có học... học người ta nói chuyện đâu~”
Nghiêm Tuyết không cần nghĩ cũng biết, em trai Nghiêm Kế Cương lúc này nhất định đang uất ức đến đỏ mặt tía tai, mà càng cuống lại càng không thốt nên lời.
Kể từ năm ngoái khi cha Nghiêm bị đá lở trên núi đè c.h.ế.t, vô tình chứng kiến bộ dạng m.á.u thịt be bét của cha, Nghiêm Kế Cương chín tuổi đã mắc tật nói lắp. Buổi tối thằng bé thường xuyên gặp ác mộng, thỉnh thoảng còn lên cơn co giật.
Loại nói lắp do tâm lý này thực ra có khả năng chữa khỏi, nhưng điều kiện kinh tế của họ thực sự không cho phép. Những đứa trẻ hư đốn như Nghiêm Kế Tông lại suốt ngày nhại theo giọng điệu của Nghiêm Kế Cương, coi đó là trò tiêu khiển, khiến Kế Cương càng thêm tự ti, thậm chí không dám bước chân ra khỏi cửa.
Quả nhiên bên trong truyền ra tiếng nói lắp bắp đầy bất lực: “Anh... anh chính... chính là...”
“Tao... tao... tao chính là!” Nghiêm Kế Tông tiếp tục nhại lại, cười rũ rượi.
Nghiêm Tuyết sầm mặt, bước nhanh tới, thẳng tay tát một cú trời giáng vào gáy thằng bé.
Lực tay không hề nhẹ, vang lên một tiếng "bốp" giòn tan.
Nghiêm Kế Tông đau điếng ôm lấy đầu, quay lại thấy là cô thì suýt chút nữa nhảy dựng lên: “Em chỉ đùa với Kế Cương một chút, chị đ.á.n.h em làm gì?”
“Chị cũng chỉ đùa với em một chút thôi, chị đ.á.n.h em bao giờ?”
Trên mặt Nghiêm Tuyết không hề có vẻ tức giận, thậm chí còn cười tươi rói, trả lại nguyên văn lời của nó.
Nói lý lẽ với loại trẻ ranh này rằng không được lấy khuyết điểm của người khác ra làm trò cười là vô dụng. Cha mẹ nó còn chẳng buồn quản, chỉ bao biện rằng "trẻ con đùa nghịch", còn trách ngược cô chuyện bé xé ra to. Cô cũng lười thay người khác dạy con, dứt khoát thấy lần nào thì cũng "đùa" lại với đối phương một lần, xem bao giờ nó mới nhớ đời.
Thấy thằng bé cứng họng, Nghiêm Tuyết giơ tay lên dọa: “Nếu em cảm thấy chị vỗ mạnh quá, chị làm lại lần nữa nhé, lần này đảm bảo sẽ nhẹ nhàng.”
Nghiêm Kế Tông có cho vàng cũng không dám để cô làm lại. Lần trước nó tin lời cô, kết quả bị tát cho ngã dúi dụi xuống đất.
Nó ôm đầu bỏ chạy thục mạng: “Em đâu có ngốc!”
Xem ra cũng biết sợ rồi đấy.
Nghiêm Tuyết lúc này mới bước vào nhà, hỏi cậu em trai đang đứng nép ở cửa buồng trong: “Kế Tông sang tìm em chơi à?”
Không phải cô hỏi thừa. Nghiêm Kế Tông vốn tính hiếu động, sang vài lần thấy Nghiêm Kế Cương lầm lì không thích ra ngoài, đã lâu rồi không bén mảng tới đây nữa.
Khi nói chuyện, Nghiêm Tuyết cố tình nói thật chậm rãi, giọng điệu tự nhiên và thoải mái, như thể chỉ buột miệng hỏi bâng quơ. Kiếp trước cô từng nghe nói, môi trường giao tiếp thoải mái, chậm rãi có thể giúp bệnh nhân giảm bớt căng thẳng, cải thiện chứng khó nói.
Nhắc đến thì cô xuyên không đã được một năm, hoặc có lẽ còn sớm hơn. Từ sau khi bị ngã đập đầu một năm trước, trong đầu cô xuất hiện thêm một đoạn ký ức khác. Hai luồng ký ức cứ xung đột khiến cô ốm li bì mất nửa năm, đến giờ cô cũng chẳng rõ mình là hồn xuyên hay là đầu t.h.a.i nhưng vẫn giữ được ký ức tiền kiếp.
Tuy hai đoạn ký ức cách nhau gần sáu mươi năm, nhưng lại có một điểm tương đồng bi đát: Đều vừa mới mất cha.
Chỉ khác là, một người là cha ruột, một người là cha dượng; một người bỏ lại cô cô độc trơ trọi, một người còn để lại cho cô đứa em trai cùng mẹ khác cha. Về phần mẹ, người mẹ kiếp trước mất sớm nên cô không có nhiều ấn tượng; người mẹ kiếp này ngược lại rất thương con, dù gian khổ thế nào cũng không bỏ rơi cô. Đáng tiếc bà đoản mệnh, sinh Nghiêm Kế Cương được vài năm thì bệnh mất, để lại cô - một người mang họ Nghiêm nhưng không chung huyết thống nhà họ Nghiêm - được cha dượng nuôi lớn một nửa.
Cho nên, Nghiêm Tuyết và đứa em trai này thực sự là nương tựa vào nhau mà sống. Hai tháng cô bệnh nặng nhất, chính Nghiêm Kế Cương đã nén nỗi sợ hãi để chăm sóc chị.
Không còn người ngoài, Nghiêm Kế Cương quả nhiên bớt căng thẳng, học theo dáng vẻ của cô nói chậm lại: “Không phải, anh ấy đến... đưa đồ, nói là... bác gái cả cho.”
Tuy vẫn còn ngập ngừng, nhưng ít nhất không bị lắp bắp.
Theo hướng ngón tay em trai chỉ, Nghiêm Tuyết nhìn thấy trên bệ bếp lò, có bốn cái bánh bột đậu vàng ươm đựng trong đĩa sành thô.
Chuyện này đúng là lạ đời. Khi cha Nghiêm qua đời, Nghiêm Tuyết mới mười bảy tuổi, quyền giám hộ của hai chị em và tài sản đều rơi vào tay gia đình bác cả. Nhưng bất kể là chuyện ăn mặc, hay trả nợ tiền vay đội sản xuất để chữa bệnh cho cô trước đó, đều do Nghiêm Tuyết tự mình xoay xở. Bên kia đến một hạt gạo cũng chưa từng thí cho.
Hơn nữa, vùng Nghiêm Gia Trang này nổi tiếng là "vành đai khoai lang". Đất đai tơi xốp, thoát nước tốt, cực kỳ thích hợp trồng khoai, hơn 70% sản lượng lương thực đều là khoai lang. Ngay cả làm bánh hấp cũng phải dùng men khoai lang, lấy khoai chín bóc vỏ nhào vào men, ủ lên rồi mới trộn thêm chút bột mì ủ lần hai. Bình thường phụ nữ và trẻ con chẳng mấy khi được ăn các loại lương thực khác, bánh trái lương khô đều là để dành cho đàn ông - những lao động chính - ăn lấy sức làm việc.
Bánh bột đậu này được làm từ bột ngô nén c.h.ặ.t, trộn thêm một phần tư đến một phần ba bột đậu nành, dán vào thành nồi nướng lên. Bên trên xốp mềm, bên dưới giòn rụm, thơm nức mũi. Bác gái cả mà nỡ mang cho chị em cô món ngon này sao?
Phản ứng đầu tiên của Nghiêm Tuyết chính là: "Vô sự hiến ân cần, phi gian tức đạo" (Tự dưng tốt bụng đột xuất, không có gian thì cũng là trộm).
Nghiêm Kế Cương rõ ràng cũng chẳng còn chút ảo tưởng tình thân nào với gia đình bác cả, khuôn mặt nhỏ nhắn lộ vẻ lo âu: “Họ... họ lại muốn làm gì nữa?”
Gia đình này có tiền án. Hồi cha Nghiêm gặp nạn qua đời, trách nhiệm thuộc về đội khai thác đá dùng t.h.u.ố.c nổ bên thôn Vương. Dù sao cũng là một mạng người, thôn Vương có bồi thường một khoản tiền. Bác gái cả đi nhận thay, về nhà đến một lời cũng không nhắc với hai chị em, ỉm đi nuốt trọn. Nếu không phải vì chuyện này, Nghiêm Tuyết cũng sẽ không chạy đi đòi công bằng, để rồi bị xô ngã đập đầu, nằm liệt giường suốt nửa năm.
“Không sao, mặc kệ bà ta có ý đồ gì, cũng phải xem chúng ta có chịu phối hợp hay không đã.”
Cộng cả hai kiếp lại, sóng gió Nghiêm Tuyết gặp phải nhiều không đếm xuể, cũng đều đã vượt qua cả, nên cô khá bình thản.
Cô tháo gùi đặt xuống đất: “Đúng lúc bên Đại Triệu Gia thu mua lạc giá cao hơn chỗ mình một xu, được một hào chín một cân. Chị tiện thể mua một con cá mặn ở chợ, lát nữa ngâm nước rồi mai rán chung với củ cải, ăn kèm bánh này, đỡ công nấu nướng.”
Thời kỳ bao cấp vật tư khan hiếm, ăn no đã khó, cá mặn được coi là món sơn hào hải vị rồi. Vừa nghe có đồ ngon, mắt Nghiêm Kế Cương sáng rực lên. Nhưng rất nhanh, cậu bé lại chùng xuống: “Chị, mình còn nợ... nợ đội bao nhiêu tiền nữa?”
“Nợ tiền thì nhịn ăn chắc?” Nghiêm Tuyết xoa đầu cậu bé, “Đi bộ cả ngày mấy chục dặm đường, chị sắp đói lả rồi, em qua giúp chị nhóm lửa đi.”
Dù sao cũng là trẻ con, sự chú ý của Nghiêm Kế Cương lập tức bị đ.á.n.h lạc hướng, "dạ" một tiếng rồi chạy đi nhóm bếp, tay kéo ống thụt, miệng vẫn không quên quan tâm: “Hay là... chị ăn trước... ăn một cái bánh đi?”
“Không vội.” Nghiêm Tuyết dọn dẹp xong xuôi, lấy số tiền kiếm được hôm nay ra bắt đầu tính toán sổ sách.
Nghiêm Gia Trang không có mỏ đá như thôn bên, tất cả đều trông vào ruộng đất. Hàng năm qua vụ thu hoạch mùa thu, đội sản xuất sẽ chia lương thực theo công điểm. Nhà nào nhiều công điểm, hoặc đất tự lưu (đất phần trăm) năng suất cao, phần dư ra có thể bán cho trạm thu mua kiếm chút tiền; nhà nào đông con ít lao động thì phải mua ngược lại lương thực của đội, có khi còn ghi nợ.
Năm ngoái Nghiêm Tuyết mất nửa năm dưỡng bệnh, trong nhà nuôi hơn chục con gà, chỉ dựa vào bán trứng gà mới miễn cưỡng cân bằng thu chi, chuyện trả nợ thì xa vời. Thời đại này, đầu cơ trục lợi bị cấm ngặt, cho dù cô dám liều lĩnh làm lại nghề cũ (đi vùng biển buôn cá về bán), thì khoản chênh lệch kiếm được cũng như muối bỏ bể.
Hơn nữa, vấn đề nan giải nhất hiện nay không phải là tiền, mà là tâm lý của Nghiêm Kế Cương. Năm ngoái thằng bé đã bỏ học, dù học phí đã đóng đủ, nhưng người lại lén trốn về, lúc bị cô phát hiện mặt mày tái mét. Ra Giêng là thằng bé tròn mười tuổi, chẳng lẽ cứ trốn học mãi? Cho dù cô có thể dạy nó biết chữ, làm toán ở nhà, nhưng nó đâu thể trốn trong nhà cả đời không gặp ai?
Nghĩ vậy, động tác nhai bánh của Nghiêm Tuyết chậm lại. Nghiêm Kế Cương ngồi đối diện thấy thế tưởng cô tiếc rẻ không dám ăn, bèn cúi đầu bẻ nửa phần bánh chưa c.ắ.n của mình đưa sang: “Em ăn không hết.”
“Chị cũng ăn không hết.” Nghiêm Tuyết hoàn hồn, đẩy miếng bánh trở lại.
Cô húp một ngụm canh cải trắng, trầm ngâm hỏi: “Kế Cương, nếu chúng ta chuyển đến một nơi khác sống, em có dám thử ra ngoài không?”
Nghiêm Kế Cương khựng lại, há miệng muốn nói gì đó nhưng nghẹn lời, chỉ đành cúi đầu đầy xấu hổ.
Nghiêm Tuyết không ép, ăn cơm xong dọn dẹp bát đũa. Quay lại đã thấy Nghiêm Kế Cương lau bàn sạch sẽ, bày vở và b.út chì ra đợi cô dạy chữ.
Đêm hôm đó, Nghiêm Kế Cương lại gặp ác mộng.
Người bên cạnh hơi thở trở nên dồn dập, Nghiêm Tuyết nhận ra ngay. Cô đưa tay vỗ nhẹ qua lớp chăn, đợi em trai hoàn toàn tỉnh táo mới khoác áo bông xuống rót cốc nước ấm. Nghiêm Kế Cương lí nhí cảm ơn, uống xong lại rúc vào chăn. Rõ ràng sợ đến mức run rẩy nhưng vẫn nhắm c.h.ặ.t mắt, giả vờ như mình ổn và có thể ngủ tiếp.
Khoảnh khắc đó, Nghiêm Tuyết nhớ đến người cha kiếp trước. Những ngày cuối đời ông nằm viện, dù bị bệnh tật hành hạ đau đớn đến mất ngủ, nhưng vì sợ làm phiền cô, ông cứ nằm cứng đờ, đến trở mình cũng không dám.
Có lẽ ông trời thấy cô cô độc quá, mới đá cô về thập niên sáu mươi này và ban cho một người thân m.á.u mủ.
Chắc không phải vì cô bị cô bé giường bên cạnh lôi kéo xem một cuốn tiểu thuyết đâu nhỉ? Trong truyện đó cũng có nhân vật tên Nghiêm Tuyết, nhưng người ta số hưởng hơn nhiều: biết đầu thai, lấy chồng là kỹ sư cao cấp. Chỉ xui xẻo mỗi cái là đầu thời kỳ biến động lỡ hủy hôn ước từ bé. Đối phương cầm kịch bản "bị từ hôn", chẳng cần đợi ba mươi năm, chỉ hai mươi năm sau đã quay lại báo thù. Ông chồng kỹ sư chẳng những không bảo vệ được vợ mà còn thân bại danh liệt trước, phải đi dán hộp giấy...
Nghĩ thế mới thấy, không "bắt trend" xuyên vào sách cũng là một loại may mắn.
Cảm nhận hơi thở bên cạnh dần ổn định, Nghiêm Tuyết cũng thiếp đi. Sáng hôm sau, cô xem lịch, đeo gùi ra ngoài một chuyến.
Lúc trở về, Nghiêm Kế Cương đã cho gà ăn, quét tước nhà cửa sạch bong. Cậu bé đang phồng đôi má gầy guộc, cẩn thận lau chùi cái vung gỗ của chiếc nồi lớn, trông chẳng khác nào cô bé Tí Hon chăm chỉ. Chỉ cần không phải ra ngoài, không phải giao tiếp, thế giới trong căn nhà đất nhỏ bé này là nơi cậu bé thấy an toàn nhất.
Nghiêm Tuyết thở dài bất lực, ra vườn sau nhổ củ cải. Cá mặn đã ngâm nở, cắt khúc là nấu được ngay.
Đang định nhóm bếp, cửa nhà chính bỗng vang lên tiếng động. Bác gái cả Bạch Tú Trân mang theo làn gió lạnh xồng xộc bước vào.
