Thiên Tai Ập Đến, Nông Nữ Làm Ruộng Trong Núi Sâu - Chương 127: Gặt Lúa
Cập nhật lúc: 18/04/2026 07:36
Ăn sáng xong, nàng băm một ít dây bí ngô, bí đao trộn với bã lạc, xách thùng vào chuồng gia cầm cho gà vịt ăn.
Thỏ thì ăn lá cây non hơn, không có bã lạc.
Thu hoạch xong đậu nành, đậu xanh và lạc thì mảnh đất đã trống. Nàng vác cuốc, đầu đội nón lá ra đồng xới đất, xới lên rồi lại rắc thêm ít phân khô chôn xuống để cải tạo đất.
Đợi xem thời tiết sau này có tốt lên không đã, nếu trời mưa thì sẽ trồng cải trắng, củ cải, rau chân vịt, rau củ phải trồng nhiều một chút.
Phải bắt đầu chuẩn bị đồ cho mùa đông rồi, lúc đó trời lạnh, không trồng được rau xanh tươi, chuẩn bị cả phần của nàng và của gà vịt thỏ nữa.
Nàng tính toán sẽ trồng nhiều cải trắng hơn, đến lúc đó có thể cất trong hầm, còn có thể lấy một phần làm dưa chua.
Xới đất hai ngày, nàng tiện thể cuốc luôn cả đám cỏ dại khô héo trên sườn dốc vứt sang một bên.
Cứ thế lại bận rộn thêm mấy ngày.
Đậu nành đã phơi khô, nàng lấy hơn hai mươi cân ra rang khô, rang chín rồi cho vào cối đá lớn, một cây chày gỗ to buộc thêm một tảng đá lớn, dùng đá giã thành bột.
Bột đậu nành giã xong sau này có thể trộn vào cỏ cho thỏ ăn.
Ruộng rau trống đã bón phân xong, nàng rắc hạt cải bẹ lên đó. Nàng muốn trồng nhiều rau một chút để sau này có thể phơi làm dưa muối khô hoặc rau khô để mùa đông ăn.
Cải bẹ và cải thìa trồng trước đó đã cao bằng chiếc đũa, xanh um tươi tốt.
Điều khiến Hạ Thanh Nguyệt vui nhất là bông lúa trên ruộng đã ngả vàng, hạt thóc trên bông cũng vàng đi ít nhiều. Có bông nhiều hạt, có bông ít hạt do ảnh hưởng của thời tiết, còn có một số là hạt lép.
Lúa có thể kết hạt đã khiến nàng rất mãn nguyện rồi, dù sao cũng tốt hơn là bị khô héo hết.
Tất cả là nhờ có cái giếng, nếu không kịp thời đào được nước, lúa trồng năm nay đã phải bỏ đi hết rồi.
Lúa còn phải một thời gian nữa mới chín vàng hoàn toàn, trong lúc chờ nó chín, nàng làm một cái kệ trúc lớn để phân loại d.ư.ợ.c liệu rồi làm thêm mấy cái mẹt trúc để phơi đồ.
Không thể không nói, làm nhiều kệ trúc rồi nàng cũng tích lũy được không ít kinh nghiệm, bây giờ làm lại thấy thuận tay hơn hẳn.
Mất mười ngày, Hạ Thanh Nguyệt làm xong cái kệ trúc đựng d.ư.ợ.c liệu, đặt bên cạnh kệ trúc đựng hạt giống.
Dược liệu rất nhiều, mỗi loại một ít, nàng cố ý dùng nan trúc đan những chiếc hộp trúc nhỏ có kích thước giống nhau.
Nếu có cỏ hoặc cành liễu dẻo dai thì cũng có thể dùng để đan.
Trên rổ trúc ghi tên d.ư.ợ.c liệu, từng cái một được xếp vào các ngăn của kệ trúc.
Mỗi ngăn chứa d.ư.ợ.c liệu đều được phân loại rõ ràng, loại cầm m.á.u trị ngoại thương, loại cảm mạo hạ sốt, loại tiêu viêm giảm đau.
Sắp xếp như vậy thì vừa nhìn là hiểu ngay, sau này muốn lấy cũng thuận tiện.
Làm xong kệ trúc, nàng nhân cơ hội dọn dẹp phòng chứa đồ, cất gọn những thứ tạm thời không dùng đến.
Sắp được thu hoạch lúa rồi, nàng lại tìm ra cái cối xay để tuốt vỏ thóc.
Món đồ cũ này là do Hạ Đại Tùng làm từ mấy năm trước, nàng lại kiểm tra một lượt, ngoài hơi bẩn ra thì các bộ phận đều còn tốt.
Thóc tuốt vỏ xong còn cần dùng cối giã gạo, loại bỏ lớp cám mới ăn được.
May mà cả hai dụng cụ này đều có, nàng mang chúng ra ngoài dùng nước cọ rửa rồi phơi khô.
Vài ngày sau, lúa đã vàng rực hoàn toàn.
Vì được thu hoạch hoa màu nên Hạ Thanh Nguyệt mặt mày hớn hở, đầu đội nón lá, mặc quần dài áo dài, mang liềm xuống ruộng gặt lúa.
Nửa giờ đầu, toàn thân nàng tràn đầy năng lượng, hăng hái làm việc.
Sau đó, nàng nóng đến toát mồ hôi toàn thân, đặc biệt là phần đầu đội nón, vì không thoáng khí nên nóng đến mức da đầu tê rần và ngứa ngáy.
Đội nón lá cũng vô dụng, mặt nàng bị nắng hun đỏ bừng, tay thì bị lá lúa cứa vào rất khó chịu.
Nàng nhăn mặt, vừa gặt vừa nói: “Quả nhiên mỗi hạt thóc làm ra đều chẳng dễ dàng, chỉ khi ngươi đối xử tốt với nó thì nó mới đền đáp lại ngươi.”
Ban ngày nắng to nên nàng thường gặt vào sáng sớm hoặc chiều muộn, mỗi ngày gặt khoảng ba bốn tiếng, lúa gặt xong thì đập lấy hạt.
Cứ thế gặt ba ngày, hai mẫu ruộng lúa đã gặt xong, hạt cũng đã đập xong.
Thóc còn nguyên vỏ cộng lại gần sáu trăm cân, tính cả rơm rạ, tất cả được trải ra phơi trên mặt đất dưới đáy hố trời.
Phơi mấy ngày nắng to, ngày nào cũng siêng năng đảo mặt, thóc phơi khô vàng óng.
Tiếp theo là tuốt vỏ và giã gạo.
Thóc được đổ vào cối xay, tay nắm lấy tay cầm quay vòng tròn. Theo chuyển động của cối xay, vỏ trấu bay ra, hạt gạo từ miệng cối rơi xuống cái rá đặt bên dưới.
Vì gạo thô mua dưới núi lần trước đã ăn hết nên nàng lấy một nửa số thóc ra tuốt vỏ, nửa còn lại phơi thêm một chút rồi cho vào bao cất đi, sau này làm tiếp.
Nàng bận rộn suốt cả một ngày mới tuốt xong vỏ, lúc này gạo vẫn còn đen, có hạt vỏ vẫn chưa sạch, phải xử lý bằng tay, nếu vẫn chưa sạch thì cho vào bao tải mà đập.
Ngày hôm sau, nàng lại bận rộn giã gạo, đổ gạo vào dụng cụ giã gạo chuyên dụng. Nàng đứng trên cao, chân đạp lên tấm ván, đầu kia của tấm ván nối với một cái chày gỗ to có thể giã gạo.
Việc này nếu có nhiều người hợp tác thì sẽ nhanh hơn, một mình nàng làm hơi vất vả.
Khoảng hai trăm cân gạo, một mình nàng vừa làm vừa nghỉ, giã mất hai ngày mới xong.
Tạp chất sau khi giã gạo được tách ra gọi là cám, vì không có cối xay gió nên nàng chỉ có thể đổ gạo vào trong ky, dùng tay lắc để sàng lọc sỏi đá và tạp chất.
Vỏ trấu và cám gạo thu gom lại phơi khô, cộng lại cũng được mấy chục cân, một thời gian tới không cần lo chuyện cho gà vịt ăn nữa.
Đợi nàng làm sạch gạo xong đổ vào vại, tuy thân thể và tinh thần đều mệt mỏi nhưng nhìn thấy nhiều lương thực như vậy, hơn nữa còn do chính tay mình vất vả trồng ra, niềm vui sướng và mãn nguyện cứ quẩn quanh trong lòng.
Nàng bốc một nắm gạo lên xem xét kỹ, đa số hạt gạo đều hơi nát, không còn nguyên vẹn.
Cũng bởi điều kiện lúc này có hạn nên hạt gạo không vừa trắng vừa nguyên vẹn đẹp đẽ giống như gạo ở kiếp trước.
“Không ảnh hưởng đến việc ăn là được rồi, trưa nay nấu cơm ăn!”
Nàng vui vẻ múc một bát gạo đầy vào nồi nấu. Khi sôi, nước cơm có màu trắng sữa, hương gạo thơm nức mũi.
Đã lâu rồi không được uống nước cơm, nàng lấy nắp đậy nồi lại, chừa một khe hở nhỏ rồi một tay nghiêng nồi xuống. Nước cơm từ khe hở chảy ra, rót vào chiếc bát lớn bên dưới.
Chắt được một bát rưỡi nước cơm.
Nồi cơm sau khi chắt nước được chuyển sang bếp sau, đun nhỏ lửa một lúc là chín.
Bếp trước bắc một chiếc nồi sắt lớn để chuẩn bị xào rau.
Cơm ngon phải đi với thức ăn ngon, nàng muốn làm một món ăn đã mong nhớ từ rất lâu – thỏ xào cay ăn nguội.
Nàng làm thịt năm con thỏ béo mập, lột sạch da lông, trừ một con luộc cho Hắc Hắc ra thì số còn lại c.h.ặ.t thành từng miếng vuông đều nhau, thêm gừng thái sợi, gốc hành, muối, rượu, hạt nêm nấm tùng nhung rồi trộn đều, để sang một bên cho thấm gia vị.
Trong lúc đó, nàng chuẩn bị nguyên liệu, ớt khô mỗi loại một ít, có loại thơm, có loại cay nồng, trộn lẫn vào nhau sẽ vừa thơm vừa cay.
Đun sôi nước trong nồi, cho ớt vào luộc đến khi nở ra thì vớt, bước này để loại bỏ tạp chất trên ớt, hơn nữa ớt đã luộc sẽ không dễ bị cháy, màu sắc cũng đẹp hơn.
Đổ dầu lạc vào nồi sắt, trộn thêm một ít mỡ heo, cho gừng và cả cây hành vào phi thơm rồi vớt ra, cho thịt thỏ vào chảo dầu đảo đều, rắc thêm một nắm hoa tiêu khô.
Xào trên lửa vừa khoảng ba phút, thấy dầu trong và không còn nước thì cho ớt đã luộc vào, xào khô nước, thêm chút bột ớt, đường đỏ và muối là xong.
Trong từng hơi thở, không khí tràn ngập mùi vị tê cay thơm nồng, Hắc Hắc hắt xì không ngừng còn nàng thì vui vẻ cười, liên tục hít hà mùi thơm.
Thơm quá, thơm quá đi mất!
