Tiểu Tài Thần - 7
Cập nhật lúc: 25/08/2026 17:01
“Cho nên con càng muốn hỏi, ngài nhớ sinh thần của con năm nào?”
“Trước bảy tuổi con sốt cao, ai cõng con đến y quán?”
“Tổ mẫu không cho con ăn, ai để lại cho con nửa cái màn thầu?”
“Ngài đều không biết.”
“Vậy mà hôm nay ngài dẫn một đám người đến muốn quyết định cả đời của nương thay bà.”
Trên mặt Triệu Thừa Nghiệp cuối cùng lộ ra vẻ chật vật.
Nương thu hòa ly thư lại, bình thản nói: “Nếu ngài còn mang chuyện này đến cửa nữ thị gây náo loạn, ta sẽ báo quan vì tội quấy nhiễu thương hộ.”
“Triệu tướng quân đã thích nói quy củ, vậy chúng ta cứ theo quy củ mà làm.”
Triệu Thừa Nghiệp nghiến răng: “Nàng không sợ sau này A Ý vì nàng mà bị người ta nói là không có phụ gia làm chỗ dựa sao?”
Ta giành đáp: “Con có nương, có cửa hàng, có tiên sinh, có cả một thành người bằng lòng chống lưng.”
“Nếu phụ gia chỉ biết bắt con cúi đầu, vậy không cần cũng được.”
Nương xoa đầu ta.
Khoảnh khắc ấy, ta cảm thấy mình còn sáng hơn chiếc đèn l.ồ.ng cao nhất ngoài cửa.
Cuối cùng Triệu Thừa Nghiệp không mang được thứ gì đi.
Khi ông cưỡi ngựa rời đi, lưng vẫn thẳng, nhưng không còn ai hướng về ông hành lễ.
Người Lâm Giang đều bận mua thịt muối, gói t.h.u.ố.c và bánh tổ của chúng ta.
Không ai muốn vì một vị tướng quân đã qua thời mà dừng bước.
MẸ CON CÙNG BÀN
Đêm giao thừa năm ấy, Xuân Hòa Phường không đóng cửa sớm.
Nương bảo bếp sau nấu một nồi canh thịt dê thật lớn, chia cho những người ở lại trong thành mà không có nơi để về.
A Hà dẫn con gái đến.
Hán t.ử bán than đưa theo hai đứa con.
Ngay cả phụ nhân năm xưa nhận bạc của Liễu Như Yên đến gây chuyện cũng bưng một chậu viên chiên, nói muốn góp thêm một món.
Ta ngồi trên quầy phát hồng bao cho mọi người.
Bên trong không phải bạc, mà là phiếu ứng trước tiền hàng năm sau.
Nương nói, người muốn làm việc cứ cầm về ăn Tết cho yên ổn, sang xuân từ từ trả.
Còn người chỉ muốn chìa tay chờ người nuôi, Xuân Hòa Phường nuôi không nổi.
Có người hỏi vì sao bà không trực tiếp phát cháo.
Nương gắp một miếng thịt dê vào bát ta: “Ăn một bát cháo có thể ấm bụng.”
“Tự mình kiếm được tiền, lòng mới không lạnh.”
Đêm ấy tuyết lại rơi.
Giống hệt ngày chúng ta rời Triệu phủ.
Ta chợt nhớ đến bản thân năm đó, nhỏ bé co ro, sợ bị bỏ lại, sợ nương cũng giống người khác nói ta phiền phức.
Nhưng nương chưa từng như thế.
Bà cho ta đọc sách, cho ta lên tiếng, cho ta đứng cạnh khi bà cãi với kẻ xấu.
Bà dạy ta trước hết phải sống cho ổn.
Eo lưng cứng rồi thì không cần cầu người khác giơ cao đ.á.n.h khẽ.
Sau bữa cơm, nương lấy ra một chiếc hộp gỗ nhỏ đặt trước mặt ta.
“Đây là quà mừng tuổi cho con.”
Ta mở ra.
Bên trong là một con dấu đồng nhỏ, khắc hai chữ “Tri Ý”.
“Sau này con ký sổ của mình, lập khế của mình, đều dùng nó.”
Nương nói.
“Con có thể gả, cũng có thể không gả.”
“Có thể sống cùng người mình thích, cũng có thể một mình làm việc mình muốn.”
“Chỉ cần là lựa chọn của chính con, nương đều vui cho con.”
Mũi ta cay xè, vội đóng con dấu lên mu bàn tay bà: “Vậy con cũng đóng dấu cho nương.”
“Thẩm Oản nương thân, lợi hại nhất thiên hạ.”
Cả phòng bật cười.
Ngoài cửa sổ, tuyết rơi rất nhẹ.
Ánh đèn xuyên qua giấy cửa sổ, chiếu nồi canh thịt dê trên bàn lấp lánh.
Bữa đoàn viên ấy không phải từ trên trời rơi xuống.
Là nương dẫn ta từng bước lội ra khỏi bùn mà có được.
Nương nâng chén rượu, trước hết kính tất cả những người đã dựa vào chính mình mà chống qua mưa gió, cuối cùng mới nhẹ nhàng chạm chén với ta.
Con dấu đồng trong lòng bàn tay hơi lạnh.
Ngực ta lại nóng rực.
Sang xuân, nữ thị còn mở cửa hàng mới, y quán còn nhận đồ đệ mới, ta cũng sẽ học cách giúp nhiều người hơn tính cho rõ sổ sách.
Khoảng trời nương giành lấy cho ta đã rộng đến mức đủ chứa vô số cuộc đời mới.
MỐI LÀM ĂN ĐẦU TIÊN CỦA NĂM MỚI
Mùng sáu tháng Giêng, tuyết ở Lâm Giang vừa tan, trước cửa nữ thị đã xếp một hàng dài.
Ngoài cửa có hơn mười nữ t.ử ôm bọc hành lý.
Phần lớn là tức phụ ở các thôn lân cận.
Có người trên mặt còn vết thương cũ, có người dắt con, có người nắm c.h.ặ.t giấy tờ hộ tịch đến nhăn nhúm.
Cô nương dẫn đầu tên Điền Mạch.
Nàng chỉ lớn hơn ta vài tuổi, da bị lạnh đến đỏ bừng, nhưng đứng rất thẳng.
Nàng nói: “Thẩm đông gia, chúng ta nghe nói nơi này nhận người chịu làm việc.”
“Ta biết dệt vải gai, cũng biết làm giày.”
“Chỉ là nhà chồng không cho ta ra khỏi cửa.”
“Bọn họ lấy số bạc ta tích góp để cưới vợ cho tiểu thúc, còn nói nếu ta dám chạy sẽ bán con ta.”
Nương trước hết bảo người mang nước nóng đến, lại nhét cho đứa trẻ một quả trứng.
Điền Mạch vội xua tay: “Ta không đến xin ăn.”
“Ta biết.”
Nương đặt một tờ khế trắng trước mặt nàng.
“Cho nên ta hỏi ngươi, ngươi muốn làm gì?”
Điền Mạch sững người.
Trước kia mỗi lần nàng mở miệng, thứ nghe được luôn là “ngươi nên làm gì”.
Bà bà bảo nàng nấu cơm, phu quân bảo nàng xuống ruộng, người trong thôn bảo nàng nhịn.
Chưa từng có ai hỏi nàng muốn làm gì.
Mắt nàng dần đỏ lên, nhưng giọng nói lại từng chút ổn định: “Ta muốn làm giày.”
“Làm giày chắc chắn cho người lên núi, cũng làm giày không cọ chân cho trẻ nhỏ.”
Nương nói: “Được.”
“Phố sau nữ thị có một quầy trống, ngươi dùng trước ba tháng.”
“Da thuộc tính theo giá vốn.”
“Tiền bán được, ngươi trả tiền nguyên liệu, phần còn lại thuộc về ngươi.”
“Nếu có người đến gây chuyện, trước hết tới tìm ta.”
Điền Mạch sụp xuống định quỳ.
Nương lập tức đỡ cánh tay nàng: “Đứng mà ký.”
“Ở chỗ chúng ta, người kiếm tiền bằng chính sức mình đều đứng thẳng.”
Lời vừa dứt, mấy nữ t.ử phía sau đều lén lau nước mắt.
Ta đẩy khế thư sang cho Điền Mạch, đặt sẵn hộp mực dấu: “Không biết viết cũng không sao, ấn dấu tay là được.”
“Điều khoản ta đọc cho tỷ nghe.”
“Chỗ nào thấy không ổn cứ sửa.”
Nàng nghe rất nghiêm túc.
Ở ô họ tên, nàng viết xiêu xiêu vẹo vẹo hai chữ “Điền Mạch”.
Nét chữ giống con chim nhỏ vừa học bay.
Không đẹp, nhưng cố hết sức hướng lên.
Quả nhiên sang ngày thứ hai, nhà chồng của nàng tìm tới.
Một tráng hán dẫn theo một bà t.ử chặn quầy, gào rằng Điền Mạch là tức phụ nhà hắn, muốn kéo người về.
Điền Mạch sợ đến trắng mặt, nhưng hai tay vẫn ôm c.h.ặ.t con.
Ta đang định gọi hộ viện thì nương đã bước ra từ cửa hàng bên cạnh.
Tráng hán chỉ vào bà mà mắng: “Ngươi là thứ không giữ phụ đạo, chuyên xúi tức phụ nhà người ta bỏ chạy!”
“Nàng ăn gạo nhà ta, mặc áo nhà ta, thì phải làm trâu làm ngựa cho nhà ta!”
Nương nâng mắt: “Năm ngoái nàng dệt vải, nấu cơm, làm ruộng cho nhà ngươi, tổng cộng kiếm được bao nhiêu?”
Tráng hán sững ra: “Đó là việc nàng phải làm.”
“Vậy hai mẫu ruộng nước nàng mang theo khi xuất giá, năm ngoái thu được bao nhiêu tô?”
Nương lại hỏi.
Bà t.ử giành lời: “Đó là ruộng của Triệu gia chúng ta!”
“Khế ruộng viết tên phụ thân Điền Mạch, lúc bồi giá lại ghi rõ vào danh sách của hồi môn.”
“Từ khi nào thành ruộng Triệu gia?”
Nương chìa tay về phía ta.
Ta đã sắp xếp sẵn giấy tờ Điền Mạch mang đến, lập tức đưa qua.
Nương trải khế ruộng ra cho người vây xem, lại đọc mấy điều.
Phu gia Điền Mạch không chỉ chiếm của hồi môn, còn tự ý bán hai xấp vải hồi môn của nàng.
