Tn: Cùng Hệ Thống Bóc Phốt, Tôi Hóng Biến Xuyên Hương Cảng Những Năm 90 - Chương 438
Cập nhật lúc: 20/04/2026 01:47
Cha Chu là một người vớt xác, nghề nghiệp này sinh ra từ làn sóng trốn sang Hương Cảng, đến cuối những năm bảy mươi, mỗi khi chôn cất xong một xác ch-ết, người vớt xác có thể nhận được mười lăm đồng.
[1] Đầu những năm bảy mươi thu nhập tuy không cao đến thế, nhưng so với công nhân ở các ngành nghề khác, họ cũng được coi là nhóm người có thu nhập cao.
Vì vậy vào thời kỳ hoàng kim, huyện Bảo An có hơn hai trăm người vớt xác hoạt động.
[2]
Ôn Khải là cái xác mà cha Chu vớt được từ dưới biển lên, anh còn nhỏ tuổi, bị thương lại ngâm mình trong nước biển giá lạnh hồi lâu, khi vớt được anh lên, cha Chu tưởng anh chắc chắn đã ch-ết, thậm chí còn không kiểm tra hơi thở.
Mãi cho đến khi đào xong hố, chuẩn bị đặt anh xuống, mới nhận thấy lông mi anh khẽ rung động.
Ban đầu cha Chu tưởng anh là xác ch-ết vùng dậy, sợ đến mức suýt chút nữa ném anh xuống hố, nhưng cuối cùng vẫn mủi lòng, trước khi hành động đã thử hơi thở của anh, phát hiện tuy yếu ớt nhưng vẫn còn, thế là đưa người đến trại cứu trợ.
Vào thời đại đó, quốc gia xử phạt rất nghiêm khắc đối với những người trốn sang Hương Cảng, sau khi bắt được cơ bản đều đưa đến trại cứu trợ, sau đó chia đợt sắp xếp đi khắp nơi làm việc khổ sai, thực hiện cải tạo lao động.
Tất nhiên, nhân viên công tác của trại cứu trợ sẽ không đưa bệnh nhân đi cải tạo lao động, huống hồ Ôn Khải còn bị thương, nên anh đã nhận được sự điều trị thỏa đáng trong trại cứu trợ.
Cũng là do anh phúc lớn mạng lớn, rất nhiều đàn ông trưởng thành đều ch-ết tại vùng biển đó, anh trôi nổi nửa đêm trong nước nhưng vẫn giữ được một tia sinh khí, và tỉnh lại vào ngày điều trị thứ ba.
Mấy ngày đầu trước khi tỉnh lại, Ôn Khải luôn rơi vào trạng thái mơ màng, phải mất gần một tuần mới nói được câu đầu tiên.
Cũng chính lúc này, nhân viên công tác của trại cứu trợ mới bắt đầu tra hỏi lai lịch của anh.
Mặc dù tỉnh Quảng Đông luôn là khu vực trọng điểm của việc trốn sang Hương Cảng, mỗi năm có hàng ngàn hàng vạn người tìm mọi cách để trốn sang Hương Cảng, thậm chí có những ngôi làng vì thế mà trở thành làng không người, nhưng trong số đông đảo những người trốn đi đó, lai lịch của Ôn Khải vẫn có vẻ khả nghi.
Đầu tiên là vết thương trên cánh tay anh, tuy là vết xước nhưng người có kinh nghiệm nhìn một cái là nhận ra ngay đó là vết thương do đ-ạn b-ắn.
Trước những năm sáu mươi, chiến sĩ biên phòng gặp phải những người vượt biên không nghe lời quả thực có thể nổ s-úng, nhưng bước vào những năm bảy mươi, hiện tượng này đã dần biến mất.
[3]
Về lý thuyết mà nói, cho dù Ôn Khải là con cái của người vượt biên thì trên người cũng không thể có vết thương do đ-ạn b-ắn.
Thứ hai, mặc dù áo khoác đồng phục của anh đã bị cởi ra trong lúc bị bắt cóc, áo len gile và áo sơ mi trên người đều là đồ may đo, không có nhãn mác.
Nhưng chất liệu quần áo quá tốt.
Mà vào thời kỳ này, những người bất chấp nguy hiểm tính mạng để trốn sang Hương Cảng đa phần đều có gia cảnh nghèo khó, quần áo mặc năm này qua năm khác, đầy những miếng vá là chuyện thường tình, còn bộ quần áo đó của anh không những không có miếng vá nào, chất vải còn rất mềm mại, nhìn một cái là biết không phải xuất thân từ gia đình bình thường.
Chỉ là lúc đó Ôn Khải mặc dù đã qua giai đoạn mơ màng nhưng đầu óc vẫn chưa tỉnh táo, nhân viên công tác trại cứu trợ hỏi rất nhiều câu hỏi anh đều không trả lời được mấy.
Ngay cả khi hỏi đến tên, anh cũng chỉ lặp đi lặp lại rằng mình tên là A Khải.
Thấy vậy, nhân viên công tác của trại cứu trợ đều nghi ngờ anh bị sốt đến ngốc luôn rồi, không truy hỏi lai lịch của anh nữa.
Và sau khi vết thương của anh lành lại, họ bắt đầu đau đầu về nơi ở của anh.
Nếu Ôn Khải là một người trưởng thành, nơi đi của anh không cần phải nói, chắc chắn là đưa đi cải tạo lao động.
Nếu anh có cha mẹ, họ cũng không cần phải suy nghĩ nhiều như vậy, đưa đến bên cạnh cha mẹ, cha mẹ đi đâu anh đi đó.
Nhưng anh là một đứa trẻ chưa đầy mười tuổi, và không có cha mẹ.
Quan trọng hơn là vết thương của anh tuy đã lành nhưng c-ơ th-ể lại có chút bị lạnh hỏng, vừa g-ầy gò vừa xanh xao, đi một bước thở ba hơi, trông không giống như có thể sống thọ, c-ơ th-ể như vậy mà đưa đi cải tạo lao động thì anh làm sao sống nổi?
Đưa anh đi cho những cặp vợ chồng không có con cái nhận nuôi?
Đây là một cách, nhưng thứ nhất là c-ơ th-ể Ôn Khải yếu ớt, thứ hai là sau khi khỏi bệnh anh trông vẫn có chút ngơ ngác, thứ ba là anh đã gần mười tuổi rồi, rất khó để nuôi cho thân thiết, nên hơn một tháng trôi qua cũng không có ai sẵn lòng nhận nuôi.
Mãi cho đến một ngày nọ, nhân viên công tác của trại cứu trợ đi ra ngoài, tình cờ gặp cha Chu.
Cha Chu góa vợ, vợ đã bệnh ch-ết từ sớm, cũng vì đối phương lâm bệnh anh mới dấn thân vào nghề vớt xác, mặc dù người vớt xác kiếm được nhiều tiền nhưng trong mắt nhiều người nghề này rất đen đủi.
Cha Chu không quan tâm đến những điều đó, anh chỉ muốn kiếm thêm tiền chữa bệnh cho vợ, nhưng vợ anh cuối cùng vẫn ch-ết.
Sau khi vợ ch-ết cha Chu cũng không đổi nghề, vẫn làm công việc vớt xác, mấy năm tích góp được không ít tiền.
Vì có tiền nên người giới thiệu đối tượng cho anh không ít, nhưng điều kiện đều không ra làm sao, hơn nữa đối phương còn kén chọn nghề nghiệp của anh, cảm thấy đen đủi.
Nhiều lần như vậy cha Chu cảm thấy vô vị, thế là dập tắt ý định tái hôn, bà mai lại đến cửa đều bị từ chối hết.
Cứ thế độc thân đến năm ba mươi bảy ba mươi tám tuổi.
Bảo An lúc bấy giờ không lớn như sau này, chỉ là một thị trấn nhỏ, người vớt xác lại thường xuyên qua lại với trại cứu trợ, nên tình cảnh của anh nhân viên công tác trong trại đều nắm rất rõ.
Thế là sau lần gặp mặt đó, nhân viên công tác đã nhắm vào anh.
Mới đầu cha Chu không sẵn lòng nhận nuôi Ôn Khải, cảm thấy anh lai lịch bất minh, là một rắc rối, c-ơ th-ể lại yếu ớt, càng là gánh nặng.
Nay anh một mình no ấm cả nhà không đói, nhận nuôi một tiểu tổ tông như vậy chẳng phải là tự tìm khổ vào thân sao?
Nhưng nhân viên công tác thực sự không tìm được ai khác có thể nhận nuôi Ôn Khải, họ cũng không thể cứ để Ôn Khải ở mãi trong trại cứu trợ, ăn uống còn đỡ, một đứa trẻ lớn như vậy cứ ở mãi nơi đó sẽ không tốt cho sự trưởng thành.
Cha Chu tính tình tuy có chút lạnh lùng cứng nhắc nhưng nhân phẩm không tồi, thu nhập cũng ổn, nuôi thêm một đứa trẻ không có quá nhiều áp lực.
Hơn nữa anh rồi cũng sẽ già, có ngày cần con cái tiễn đưa, chuyện này đối với anh cũng có lợi.
Nhân viên công tác khuyên nhủ hết lời, nói đến khô cả cổ, cuối cùng cũng thuyết phục được người đến trại cứu trợ gặp Ôn Khải.
Lúc đó đầu óc Ôn Khải đã tỉnh táo, dần dần nhận thức được đây là nơi nào.
Được rồi, nhận thức của anh không toàn diện, trước đây anh được giáo d.ụ.c theo kiểu phương Tây, biết thế giới rất rộng lớn, có châu Âu, có Bắc Mỹ, còn từng đi du lịch nước ngoài.
Anh cũng biết về nội địa, đó là tổ quốc của họ, cha chính là từ nội địa sang Hương Cảng, nhưng nội địa như thế nào anh không biết.
Anh cũng không biết sau khi mình hôn mê đã từ Hương Cảng đến đại lục.
Anh tưởng mình đã ch-ết, rồi lại sống lại một cách thần kỳ, đến một thế giới xa lạ, nên anh không dám nói thêm một lời nào.
Rơi vào mắt người khác, chính là trông anh vẫn có vẻ ngơ ngác.
