Trong Viện - Chương 35:√
Cập nhật lúc: 27/08/2026 06:10
Một trận mưa tầm tã trút xuống chân núi Già La.
Trong màn mưa xen lẫn những viên băng nhỏ, lạnh thấu xương tủy. Mặt đất trơn trượt lầy lội những vũng sâu vũng cạn, vô cùng khó khăn để tiến bước.
Đêm khuya thanh vắng, một người một ngựa đội mưa gió lạnh buốt tiến vào doanh địa bên bờ sông.
Người tới đội chiếc nón lá rộng vành, khoác áo tơi bằng vải dầu. Nếu nhìn kỹ, trên nền vải dầu ấy thấm đẫm những vệt m.á.u tươi chưa kịp bị nước mưa gột sạch. Giật mạnh dây cương, vó ngựa giậm mạnh xuống nền đất sình lầy, mùi m.á.u tanh tưởi bốc lên nồng nặc, toát ra sát khí đằng đằng.
Vài tên thị vệ chạy tới nghênh đón: "Đại nhân!"
Đàn Hoa xoay người xuống ngựa, trầm giọng hỏi: "Hữu thống lĩnh đâu rồi?"
Thị vệ đáp lời: "Hữu thống lĩnh dường như nhận được tin tức gì đó, đã sang bờ sông bên kia rồi."
Trời đã điểm canh bốn, mưa vẫn xối xả không ngừng.
Cuồng phong gào thét làm tấm rèm vải của lính trướng bay phần phật. Đàn Hoa ngồi yên lặng trước chiếc bàn thấp. Rèm cửa phía sau đột ngột bị tốc lên, một luồng gió dữ dội lùa vào. Đàn Hoa như có dự cảm từ trước, nhanh tay vươn tới che chắn ngọn đèn dầu mỏng manh. Dạ Kiêu nhanh nhẹn bước vào, lập tức chốt c.h.ặ.t cửa trướng lại.
Y vứt chiếc áo tơi sũng nước sang một bên, tiến lại gần Đàn Hoa.
Nàng đang mải miết phác họa bản đồ địa hình.
Dạ Kiêu hỏi: "Sao rồi?"
Đàn Hoa đáp gọn lỏn: "Không dễ tìm."
Hiện tại, họ đang đóng quân dưới chân một dãy núi nằm phía nam chiến tuyến. Nếu băng qua những dãy núi trùng điệp phía trước, có thể tìm được một con đường tắt dẫn thẳng tới t.ử huyệt vận chuyển lương thảo của Âm Quốc. Nhưng chốn rừng sâu núi thẳm hoang vu này vắng bóng người sinh sống, ty Thân Quân được Lương Vương phái tới đây dò la địa hình thấm thoắt đã hơn một tháng.
Bản đồ địa hình tựa như một thân cây khô cằn mọc rễ trên tấm lụa trắng. Cứ cách dăm ba ngày lại được tô điểm thêm vài nét, dần dà vươn nhánh tỏa cành ra xung quanh.
Dạ Kiêu hâm nóng chút sữa dê, bưng tới một bát để Đàn Hoa xua đi hàn khí. Nàng nhận lấy, thuận miệng hỏi: "Đêm nay sao không thấy ma gào quỷ khóc nữa vậy?"
Dạ Kiêu khẽ "à" lên một tiếng.
"Ma gào quỷ khóc" mà nàng nhắc tới chính là cặp huynh đệ sinh đôi họ Tôn thuộc ty Thân Quân. Hai tên này mắc bệnh nói nhiều khủng khiếp. Dạo trước đi chấp hành nhiệm vụ bị thương, tối nào cũng rên la oai oái vì đau đớn.
"Đã đuổi đi rồi." Dạ Kiêu ngồi xuống cạnh bàn, hớp một ngụm sữa ấm, "Đêm nay ta ra ngoài cũng là vì chuyện này. Có tin tình báo báo về, cách bờ sông bên kia hai mươi dặm vừa mọc lên một y sở."
Đàn Hoa nhíu mày: "Y sở ư? Mở ở chốn khỉ ho cò gáy này?"
Dạ Kiêu gật đầu: "Ban đầu ta cũng thấy kỳ lạ. Hôm nay đích thân đi điều tra mới hay, đó chính là trạm dừng chân mới lập của Xuân Hạnh Đường."
Ánh mắt Đàn Hoa bỗng chốc dời khỏi tấm bản đồ, ngước lên nhìn thẳng vào Dạ Kiêu.
Hệ thống trạm dừng chân của Xuân Hạnh Đường vốn rải rác khắp cả nước. Cơ sở gần nhất trước đây nằm ở một huyện thành cách đó chừng bảy mươi dặm. Nhưng từ khi chiến loạn nổ ra, dân tị nạn chạy tứ tán, các tuyến đường thương mại vận chuyển vật tư đều bị cắt đứt. Vị lão chưởng quỹ tuổi cao sức yếu, t.h.u.ố.c trong kho cạn kiệt, bạc trong túi trống không, thật sự không chống đỡ nổi nữa nên đành phải đóng cửa.
Đàn Hoa lẩm nhẩm cái tên quen thuộc: "Xuân Hạnh Đường."
Dạ Kiêu tiếp lời: "Đúng vậy, nghe đồn là do Dương công t.ử đứng ra chỉ đạo. Ngài ấy điều phối lại toàn bộ hàng tồn kho của tổng cục, vạch ra một tuyến đường vận chuyển t.h.u.ố.c men mới hoàn toàn, lách qua các vùng chiến sự, nhờ vậy mới dựng lên được y sở mới này." Dạ Kiêu tu cạn bát sữa dê, quệt miệng nói tiếp: "Ta đã tống khứ huynh đệ nhà họ Tôn tới đó rồi. Vết thương của bọn chúng mà không được chữa trị kịp thời, e là tàn phế mất. Muội uống cạn bát sữa đi, ta phải lặn lội tìm bao nhiêu chỗ mới mua được chút sữa tươi này đấy."
Đàn Hoa bưng bát sữa trên tay, hồi lâu vẫn ngồi bất động. Khóe mắt nàng chợt liếc thấy thanh kiếm nằm trơ trọi trong góc, vết thương trên vai lại âm ỉ nhói đau.
Mùa đông năm ấy, nàng đã cất công dàn xếp một trận mai phục hoàn hảo nhằm mục đích đoạt mạng Kha Liệt.
Mọi bề đều diễn ra suôn sẻ đúng như dự tính. Kha Liệt dẫn theo một toán nhân mã lọt thỏm vào vòng vây của nàng. Dù quân số của nàng ít hơn, nhưng bù lại toàn là tinh binh thiện chiến, cộng thêm yếu tố bất ngờ nên chiếm được thế thượng phong.
Ngay tại khoảnh khắc Đàn Hoa chỉ còn cách mục tiêu một bước chân, thanh kiếm nhắm thẳng vào Kha Liệt lại đột ngột gãy đôi.
Sát chiêu của Đàn Hoa vốn dĩ không chừa đường lui. Thanh kiếm vừa gãy, loan đao của Kha Liệt đã c.h.é.m sượt qua vai nàng. Nếu không nhờ bản lĩnh thâm hậu, c.ắ.n răng liều mạng vặn mình né tránh, e rằng nửa thân người nàng đã bị hắn xẻ làm đôi.
Tên Kha Liệt trọng thương được đám thuộc hạ liều c.h.ế.t yểm trợ trốn thoát về Âm Quốc.
Thanh loan đao rơi lại trên mặt đất mang dáng vẻ uốn lượn hệt như vầng trăng khuyết treo lơ lửng trên không trung.
Đàn Hoa ngã trong vũng m.á.u, oán hận chất vấn vầng trăng kia: Chẳng lẽ các người đang che chở cho hắn sao?
Nàng mang theo trên vai một vết sẹo sâu tới tận xương tủy.
"Dương công t.ử cũng ở đó sao?" Đàn Hoa khẽ hỏi.
Dạ Kiêu lắc đầu: "Hôm nay thì không thấy. Ngài ấy đi vắng rồi, hình như còn phải bôn ba tới mấy y sở khác để đôn đốc việc trùng tu. Ở đó chỉ có mấy gã học trò của ngài ấy thôi. Cái tên đứng đầu bị cà lăm, nói năng nghe phát mệt. Ta vứt huynh đệ nhà họ Tôn ở đó rồi đi thẳng."
Trời dần sáng, cơn mưa cũng tạnh hẳn.
Đàn Hoa bước ra khỏi doanh địa, dạo bước lên sườn đồi thoai thoải, phóng tầm mắt nhìn về bờ sông bên kia.
Vài tia nắng ban mai yếu ớt mờ đục xuyên qua lớp mây xám xịt, rọi xuống vùng sình lầy nhớp nháp càng làm khung cảnh thêm phần rõ nét. Lớp sương mù mỏng tang bao phủ mặt sông thong thả tản mác theo từng cơn gió thổi qua. Cây cỏ bên kia bờ bị nước mưa gột rửa tới mức thẫm lại một màu u tối. Phóng mắt nhìn xa chỉ thấy hoang vu, tiêu điều chẳng một bóng người.
Hai mươi dặm, nếu phóng tầm mắt trông ra xa thì có vẻ hơi diệu vợi. Nhưng đối với khoảng cách của tiền tuyến khốc liệt này mà nói, thế đã là quá gần, quá gần rồi.
Đàn Hoa thì thầm: "Nhị ca, huynh không nên tới đây."
Hai mươi dặm, phi ngựa phi nước đại chỉ một nén nhang là tới.
Thế nhưng, Đàn Hoa không bước đi nửa bước.
Suốt khoảng thời gian dài đằng đẵng sau đó, Đàn Hoa tuyệt nhiên không đả động gì tới chuyện này nữa. Nàng chỉ biết như con thoi đi lại giữa núi rừng sâu thẳm và đại doanh của Lương Vương, dốc toàn tâm toàn ý hoàn thành quân lệnh của chủ soái. Về phía y sở kia, cũng chẳng hề có bất cứ sự liên lạc nào với doanh địa. Mọi chuyện ngỡ như chưa từng xảy ra.
Vậy đâu là dấu vết duy nhất còn sót lại?
"Đại nhân."
"Đại nhân."
Đàn Hoa quan sát huynh đệ nhà họ Tôn từ đầu tới chân, hỏi: "Thương tích đã khỏi hẳn chưa?"
"Bẩm đại nhân, không còn gì đáng ngại nữa. Dương đại phu còn gửi tặng doanh ta một ít cao d.ư.ợ.c do chính tay ngài ấy bào chế, quả thực vô cùng thần kỳ!"
Lúc đầu, Đàn Hoa nhẩm tính Dương Tri Húc trụ chẳng được bao lâu. Nàng nhẩm tính ngày tháng, đến kỳ Lập Hạ, chàng ắt phải tiến hành một đợt dẫn độc mới, và rồi chàng sẽ quay trở về thành Cảnh Thuận.
Tiết Lập Hạ qua đi, bản đồ địa hình cũng đã phác họa hòm hòm. Một ngày nọ, tên y sư trẻ tuổi mắc tật nói lắp lặn lội tìm tới doanh địa. Hắn chìa ra cho Đàn Hoa xem một chiếc quạt xếp quen thuộc, sau đó bắt đầu mở miệng xin xỏ vật tư.
"…… Tiên, tiên tiên tiên sinh bảo... bảo ta tới xin, xin xin xin……" Y sư khó nhọc đ.á.n.h vật với từng con chữ, "Xin, xin xin vài súc vải thô và mộc... mộc mộc than củi để cứu cấp! Ta, ta ta ta, bên ta ta, chúng ta thiếu trầm trọng!"
Đàn Hoa im lặng một chốc, hỏi: "Ngài ấy vẫn chưa rời đi sao?"
Kết quả là cho tới tận khi phác họa xong tấm bản đồ, đại quân ty Thân Quân rục rịch nhổ trại rời đi, thì cái y sở bé nhỏ kia vẫn sừng sững đứng đó giữa vùng thôn dã hẻo lánh.
Trước ngày hành quân, Đàn Hoa quyết định tới đó một chuyến.
Trời tảng sáng, sương mù lẩn khuất quanh bức tường đất thấp lè tè mọc lởm chởm cỏ dại, ẩn hiện vài nếp nhà tranh đơn sơ mộc mạc. Trong khoảnh sân nhỏ bày biện la liệt các dụng cụ bào chế, nghiền giã t.h.u.ố.c, bên cạnh là những nong thảo d.ư.ợ.c phơi nắng xếp lớp lớp ngăn nắp, gọn gàng đâu ra đấy.
Từ trong phòng lác đác bước ra vài người, kẻ thì quét dọn, người thì bốc t.h.u.ố.c, kiểm kê kho tàng... Mọi việc diễn ra nhịp nhàng, có trật tự.
Lát sau, có vài ba bóng lưu dân rách rưới tới gõ cửa.
Cánh cửa mở ra.
Đàn Hoa trông thấy Dương Tri Húc.
Chàng vận một thân áo mộc mạc không thêu thùa hoa văn, mái tóc dài tùy tiện b.úi thấp bằng một chiếc trâm gỗ đơn sơ. Ống tay áo xắn lên gọn gàng, tiện cho việc phân loại thảo d.ư.ợ.c và bắt mạch cho bệnh nhân.
Chàng có vẻ tiều tụy đi nhiều, Đàn Hoa thầm nhủ, liệu có phải do cố tình ăn vận sơ sài đi? Không còn khoác lên mình những bộ gấm vóc lụa là xa xỉ được may đo tinh xảo nữa? E là không phải vậy. Vẻ tiều tụy hằn sâu trên gương mặt kia là do cơn bạo bệnh hành hạ. Chàng gầy rộc đi trông thấy so với lúc họ chia tay nhau. Những đường gân xanh lồi rõ trên vùng cổ gầy guộc.
Đã bước vào đầu hạ, vậy mà chàng vẫn vận tận hai, ba lớp áo hệt như đang giữa tiết trời giá rét mùa đông. Mặc dù vậy, thân hình chàng trông vẫn mỏng manh tựa như một lớp giấy mỏng.
Chàng bận tối tăm mặt mũi: nào là xem bệnh, kê đơn, rồi lại phải chỉ dạy cho học trò làm việc.
Đàn Hoa nấp vào góc tối, trầm ngâm suy tính. Nếu bây giờ nàng đột ngột xuất hiện, nằng nặc đòi chàng rời khỏi đây, liệu chàng có chịu nghe lời nàng không?
Chắc chắn là không rồi.
Giữa bầu trời cao rộng, một con chim ưng bay sượt qua, buông một tiếng kêu lảnh lót xé tai.
Đó là ưng của ty Thân Quân truyền tín hiệu, hối thúc nàng mau ch.óng quay về tập kết.
Dương Tri Húc chẩn bệnh xong, lại tất tả chạy ra ruộng kiểm tra tình hình sinh trưởng của thảo d.ư.ợ.c. Những mầm Thảo Quả và Nha Đản T.ử đã bắt đầu đ.â.m chồi nảy lộc. Chàng nhẩm tính phải cấp tốc điều thêm Thanh Hao và Thường Sơn từ tổng kho tới...
Lưu dân tị nạn tràn về ngày một đông đúc. Thêm vào đó, lính tráng luân chuyển đóng quân thay quân liên tục. Khí trời hạ thu mưa gió dầm dề khiến muỗi mòng sinh sôi nảy nở ch.óng mặt. Ngộ nhỡ không cẩn thận, mấy cái thôn xóm loanh quanh này có nguy cơ bùng phát dịch chướng ngược rất cao, nhất thiết phải phòng bị từ sớm.
Dưới ánh mặt trời ch.ói chang, trên đường hành quân về đại doanh, huynh đệ họ Tôn lại bắt đầu ngựa quen đường cũ, đùa giỡn trêu ghẹo đồng liêu. Dạ Kiêu đi song song cũng chẳng buồn quản thúc. Ty Thân Quân điều động bao nhiêu người, mấy tháng trời đ.á.n.h đ.ấ.m ác liệt đã hy sinh gần quá nửa. Sống những tháng ngày hôm nay chẳng biết ngày mai thế nào, có kẻ vẫn giữ được tinh thần trêu đùa bỡn cợt thì âu cũng là chuyện tốt.
Chợt có tiếng vó ngựa dồn dập đuổi theo từ phía sau. Đám người đang ầm ĩ cười đùa vừa trông thấy bóng dáng người cưỡi ngựa liền lập tức câm như hến.
Đàn Hoa phi ngựa sượt qua Dạ Kiêu, quẳng lại một câu ngắn gọn bảo rằng mình đi trước dò đường, rồi cứ thế cưỡi ngựa v.út đi.
Tôn ca ca hạ giọng thì thào: "Tả thống lĩnh đại nhân khí thế áp người quá."
Tôn đệ đệ cũng hùa theo: "Ta cứ hễ nhìn thấy Tả thống lĩnh đại nhân là cấm dám hó hé nửa lời."
Dạ Kiêu bỗng xen vào: "Thực ra hôm nay tâm trạng muội ấy khá tốt đấy."
Huynh đệ họ Tôn sững sờ, trố mắt nhìn nhau. Nhìn từ chỗ nào mà ra vẻ tâm trạng đang tốt vậy?
"Tâm trạng tốt mà mặt mũi lại hầm hầm sát khí thế kia sao?" Tôn ca ca tò mò, "Liệu có phải Tả thống lĩnh đại nhân chưa từng biết cười là gì không?"
"Có cười đấy," Dạ Kiêu trầm giọng đáp, "Ta từng nhìn thấy rồi."
Ngươi nhìn thấy rồi ư?
Bụng dạ huynh đệ họ Tôn chất đầy nghi hoặc, nhưng lại chẳng dám hó hé hỏi thêm câu nào.
Dạ Kiêu không hề bịa chuyện. Y thực sự từng nhìn thấy Đàn Hoa cười, vào một ngày rất lâu, rất lâu về trước.
Nụ cười ấy là một bí mật sâu kín của Đàn Hoa, và trên thế gian này, cũng chỉ có duy nhất Dạ Kiêu tường tận bí mật ấy.
Dương Tri Húc từ ngoài ruộng trở về y sở, toàn thân rã rời mệt mỏi. Chàng lê bước vào phòng, chợt khựng lại khi phát hiện ra một thứ gì đó.
Trên chiếc bàn trống trơn vốn dĩ được dọn dẹp sạch sẽ gọn gàng, nay bỗng dưng xuất hiện một nhánh hoa dại nằm chỏng chơ.
Cửa sổ hé mở, ánh nắng mặt trời rọi thẳng vào nhánh hoa ấy, vàng ươm rực rỡ, kiêu hãnh khoe sắc.
Dương Tri Húc bước tới, nhặt nhánh hoa dại lên đưa gần mũi hít hà hương thơm, sau đó đưa ra xa ngắm nghía, khẽ bật cười thủ thỉ: "Muội đi rồi sao. Thôi được, ta biết rồi."
Công việc ở y sở vô cùng bận rộn. Điều kiện vật chất nơi đây thiếu thốn trăm bề, trăm ngàn thứ phải bận tâm suy xét. Dương Tri Húc ban đầu lặn lội tới chốn khỉ ho cò gáy này, vốn dĩ chỉ vì muốn được gần Đàn Hoa thêm một chút. Nhưng khi thực sự bắt tay vào guồng quay công việc, chàng bận rộn đến mức chẳng còn lấy một khắc để tơ tưởng tới nàng. Thân thể dẫu tiều tụy mỏi mệt tới cực điểm, nhưng cõi lòng lại không còn ôm bi sầu day dứt.
Ngày qua ngày, tháng qua tháng.
Cái y sở bé nhỏ này đã dang tay cứu chữa cho vô số tá điền, lưu dân tị nạn, và thậm chí cả những binh sĩ đào ngũ trốn chạy từ tiền tuyến. Dịp cuối năm, các loại tin tức ồ ạt bay về như tuyết lở. Có tin thắng trận vinh quang, cũng có những tin dữ đau thương xé lòng. Trong khoảng thời gian cam go nhất, Tôn đệ đệ từng hớt hải mang tin tới, hối thúc bọn họ mau ch.óng rút lui về hậu phương. Dương Tri Húc níu tay hỏi tình hình Tà Dương Quan ra sao? Tôn đệ đệ hai mắt đỏ hoe đáp: E là giữ không nổi nữa rồi, ca ca ta đã c.h.ế.t trận, rất nhiều huynh đệ cũng đã vong mạng. Bọn ta chuẩn bị tổ chức cướp lương thảo của Âm Quốc, làm cú được ăn cả ngã về không. Nếu kế hoạch thất bại, e rằng cả vùng này sẽ bị huyết tẩy sạch sẽ. Các người mau ch.óng chạy trốn đi.
Trong thôn vẫn còn rất nhiều dân chạy nạn. Vết thương của họ quá nặng không thể di chuyển, mà cũng chẳng biết phải đi đâu về đâu.
Sau cùng, Dương Tri Húc quyết định ở lại, và nơi ấy cũng may mắn thoát khỏi họa huyết tẩy.
Người ta kháo nhau rằng, Lương Vương đã thắng trận, Đạt Ngô đành lui binh.
Dẫu vậy, khói lửa chiến tranh vẫn chưa tàn. Chỉ là quân Đại Thịnh chuyển từ thế thủ sang thế công, bắt đầu giương cờ giành lại những phần lãnh thổ đã mất, từng bước tiến sát về phía Âm Quốc.
Những bức thư từ quê nhà liên tục gửi tới báo hung tin. Triều đình lại rục rịch đợt trưng binh lấy lương mới, thành Cảnh Thuận hỗn loạn hệt như mớ bòng bong. Lưu Thụy Nghĩa đã cử thân tín tới đón Dương gia di tản lên Thiên Kinh lánh nạn.
Trong thư, y không ngừng giục giã Dương Tri Húc mau ch.óng hồi kinh tĩnh dưỡng. Nhưng lần nào Dương Tri Húc cũng tìm cớ lảng tránh vấn đề này. Nhắc hoài không được, người nhà cũng đành thở dài bỏ cuộc.
Thấm thoắt, tiết trời sang thu. Từng giọt độc tố Mê Đà Đinh chắt chiu cuối cùng cũng đã cạn kiệt.
Dương Tri Húc vẫn kiên quyết không chịu rời đi. Chàng thực sự cảm thấy bình yên ở nơi này.
Trên thế gian này, chẳng ai thấu hiểu cơ thể mình hơn chính bản thân chàng. Bệnh tình đã trầm kha đến bước đường này, thì có điều dưỡng ở đâu cũng chẳng mang lại kết quả gì khác biệt. Về nhà lại phải cố gồng mình nặn ra những nụ cười gượng gạo dối gạt người thân, chi bằng cứ lưu bạt bên ngoài, chí ít nỗi thống khổ cũng được giải thoát trong sự tự do tự tại.
Mùa đông năm đó, vị trưởng lão đáng kính của Xuân Hạnh Đường đích thân dẫn theo một tiểu d.ư.ợ.c đồng lặn lội tới tận nơi này để tiến hành dẫn độc cho Dương Tri Húc.
Không có noãn các suối nước nóng sưởi ấm, không có nha hoàn gia phó kề cận chăm sóc, và cũng chẳng còn tiên d.ư.ợ.c Mê Đà Đinh để dựa dẫm. Quá trình bức độc đau đớn như bị xẻ thịt lột da khiến Dương Tri Húc suýt chút nữa thì một đi không trở lại. Chàng mê man bất tỉnh nhân sự ròng rã suốt bốn, năm ngày trời. Lúc mở được mắt ra, chàng thế mà lại mỉm cười.
Chàng cất giọng khàn đặc thều thào: "…… Ây da, thế mà cũng gượng qua được cửa t.ử cơ đấy?"
Vị trưởng lão lườm chàng một cái, nặng nề thở dài chẳng nói năng gì.
Một buổi sáng rạng đông mùa hạ, Dương Tri Húc an tọa trước án thư, trải một tờ giấy tuyên thành và bắt đầu thảo di b.út ——
"Ta tự biết đại hạn đã gần kề, sức cùng lực kiệt khó lòng gượng gạo thêm được nữa. Nhớ tới sự hưng vong của y quán, việc bảo toàn kho tàng d.ư.ợ.c liệu quý hiếm, kế sinh nhai của thân bằng cố hữu, và cả cảnh bá tánh lầm than khổ ải tìm thầy trị bệnh trong thời buổi chiến loạn... Nay ta đặc biệt để lại bức thư này, chu toàn mọi bề sự vụ, nguyện dốc hết tâm can lo liệu một bề. Trông mong chư vị y theo di nguyện mà làm, đừng để uổng phí cái danh trăm năm hành y tế thế cứu người của Xuân Hạnh Đường."
Chàng đã ròng rã suy tính suốt nửa tháng trời mới viết nên những trang di thư này, lo liệu vẹn toàn mọi khía cạnh, chẳng bỏ sót một ai. Sau đó, chàng lại cẩn thận viết thêm một bức thư tay gửi về cho gia đình. Mọi việc hậu sự thảy đều thu xếp đâu vào đấy, chàng rốt cuộc cũng trút được tiếng thở phào nhẹ nhõm.
Bầu trời ngoài khung cửa sổ cao xanh vời vợi, bao la bát ngát.
Dương Tri Húc ngước nhìn, lẩm bẩm: "Đàn Nương, muội cũng đừng vì ta mà đau lòng. Cả cuộc đời này của ta, những gì cần trải qua thảy đều đã trải qua, đã chẳng còn gì phải nuối tiếc. Ta có chừa lại cho muội một chút bạc vụn phòng thân…… Nhưng nghĩ lại thì, muội vốn dĩ chẳng bao giờ màng tới mấy thứ vật chất tầm thường đó." Chàng ngập ngừng giây lát, giọng trùng xuống, "Muội nhất định phải tự chăm sóc bản thân cho tốt. Nhị ca... không thể bảo bọc cho muội được nữa rồi."
Dương Tri Húc thậm chí còn tự tay chọn sẵn cho mình một cỗ quan tài. Một cỗ quan tài bằng gỗ bách bình dị thô mộc, không chạm khắc rồng phượng, không sơn son thếp vàng, chung quanh chỉ lưu lại những đường vân gỗ mờ nhạt tự nhiên, kích cỡ vừa khít với vóc dáng của chàng.
Cuối thu năm ấy, tin đại thắng từ tiền tuyến loan về. Lương Vương với thế tấn công chẻ tre đập nát sức kháng cự của kẻ thù, hạ gục kinh đô Âm Quốc.
Một thời gian sau, Tôn đệ đệ lại ghé thăm y sở. Khi đó Dương Tri Húc đã vô cùng suy yếu, tựa như ngọn đèn chong trước gió. Chàng gắng gượng gặng hỏi tin tức của Đàn Hoa. Tôn đệ đệ nghẹn ngào kể, Tả thống lĩnh đại nhân đã mất tích từ mấy tháng trước, nay vẫn bặt vô âm tín, sống c.h.ế.t chưa rõ.
"…… Cái gì? Chuyện... chuyện này là sao?"
Theo lời Tôn đệ đệ kể lại, trước khi tổng công kích đ.á.n.h chiếm kinh đô Âm Quốc, ty Thân Quân đã bí mật thâm nhập vào thành để dò la tin tức. Nào ngờ Đàn Hoa lại tình cờ phát hiện ra tung tích của một đám t.ử tù Đại Thịnh đang lẩn trốn trong thành. Giữa lúc đang lần theo dấu vết, nàng bất hạnh vướng vào một vụ hỏa hoạn kinh hoàng và mất tích hoàn toàn trong biển lửa. Ty Thân Quân hiện vẫn đang ráo riết truy tìm tung tích của nàng.
Tâm trí Dương Tri Húc rối bời hoảng loạn như tơ vò, nhưng lực bất tòng tâm, chẳng thể làm được gì.
Thậm chí đến việc lê bước xuống giường chàng cũng chẳng đủ sức.
Chàng tự trách mình nhu nhược bất tài, thầm nghĩ thứ tàn phế như mình sống trên đời này rốt cuộc còn có ích lợi gì nữa, chi bằng c.h.ế.t quách đi cho xong.
Nhưng số mệnh con người kỳ lạ thay. Khi một kẻ đã lo liệu chu toàn mọi bề hậu sự, chẳng còn vướng bận gì trần thế nữa, thì lại rơi vào một trạng thái hồi quang phản chiếu kỳ lạ.
Dương Tri Húc thế mà lại ngoan cường cầm cự thêm được mấy tháng ròng rã, kéo lê tấm thân tàn tạ, đôi lúc còn gắng gượng ngồi chẩn bệnh cho bá tánh.
Đám bệnh nhân thấy vị đại phu này bộ dạng còn thê t.h.ả.m hơn cả mình, ai nấy đều câm lặng xót xa.
Thoáng chốc một cái, tiết xuân về hoa nở lại gõ cửa nhân gian.
Một ngày nọ, Dương Tri Húc tỉnh giấc, yếu ớt gọi hạ nhân mở toang cánh cửa sổ.
Một bóng đen v.út qua bầu trời. Thị lực của Dương Tri Húc đã suy giảm nghiêm trọng, đầu óc cũng trở nên u mê trì trệ. Chàng nằm trên giường thẩn thờ hồi lâu mới lờ mờ nhận ra, đó là một cánh chim én.
Chàng lẩm bẩm: "…… Đàn Nương, muội đã trở về rồi sao?"
Nói xong câu đó, chàng liền chìm vào hôn mê sâu.
Trưởng lão dùng tuyệt kỹ châm cứu huyền diệu cố giữ lại chút sinh khí mỏng manh cho chàng.
Cho dù Dương Tri Húc có đạt đến cảnh giới coi nhẹ sinh t.ử thế nào đi chăng nữa, chàng vẫn là linh hồn của Xuân Hạnh Đường, là nhị công t.ử trân quý mà cả gia đình họ Dương hằng yêu thương bảo bọc. Bọn họ vĩnh viễn không bao giờ từ bỏ chàng.
Các danh y lỗi lạc khắp chốn đã được mời đến, Dương Kiến Chương và Triệu Mân cũng lặn lội tới tận nơi. Bọn họ vắt óc tìm kiếm mọi phương thức trị liệu, không tiếc ném tiền qua cửa sổ như trút nước, tất thảy chỉ vì muốn giành giật chút hơi tàn mỏng manh cho chàng.
Làm vậy rốt cuộc có ý nghĩa gì? Chính bản thân họ cũng chẳng đưa ra được câu trả lời.
Kẻ hành y vốn phải nhìn thấu lẽ sinh t.ử luân hồi, nhưng cái kiếp nạn oan nghiệt này lại giáng xuống đầu Dương Ngọc lang, thì ai mà cam tâm cho đành. Những dân làng từng chịu ân huệ của chàng, nhà nhà đều treo đèn l.ồ.ng ngoài ngõ, đêm đêm thắp sáng với khao khát hão huyền muốn đ.á.n.h lừa tai mắt bọn quỷ sai, mong níu kéo chàng ở lại dương gian thêm chút nữa.
Đêm đó, mưa xuân rả rích tuôn rơi.
Bóng người ấy lặng lẽ xuất hiện nơi bậu cửa, tựa như một âm hồn mờ ảo.
Tên học đồ nói lắp giật thót mình kinh hãi, chưa kịp hé miệng kêu la thì bóng đen đã nhanh như chớp vung tay lên. Mắt hắn hoa đi, toàn thân lập tức bị điểm huyệt bất động.
Trong phòng, vị trưởng lão đang lúi húi đút từng muỗng t.h.u.ố.c cho Dương Tri Húc. Không thèm ngoảnh đầu lại, ông trầm giọng lên tiếng: "Cửa sương phòng không khóa đâu, mọi của cải giá trị đều cất giữ ở đó. Ngươi cứ việc lấy hết đi, chỉ xin đừng sát hại sinh mệnh vô tội." Rõ ràng ông lão đang nhầm tưởng kẻ đột nhập là bọn thảo khấu cường đạo lục lâm.
Bóng người kia lạnh lẽo bước tới mép sập. Trưởng lão quay đầu nhìn, đôi mắt mở trừng trừng khiếp đảm: "Ngươi ——" Lời còn chưa dứt, ông cũng bị điểm huyệt phong bế, ngã lăn ra đất.
Đàn Hoa lặng lẽ ngồi xuống bên mép sập. Nàng chăm chú nhìn người đang nằm đó: chỉ còn là một bộ xương khô bọc lớp da nhăn nheo, khắp người găm chi chít những mũi châm nhọn hoắt. Khung cảnh khiến ai nhìn thấy cũng phải nhíu mày xót xa.
Nàng khẽ nâng cổ tay chàng lên, nhẹ bẫng tựa như một tờ giấy mỏng manh.
Có lẽ vì tác động vào vị trí châm cứu, chàng dường như cảm thấy khó chịu, những ngón tay gầy guộc khẽ run rẩy cựa quậy.
Thấy vậy, nàng liền thẳng tay rút mũi châm đó ra ném toạch xuống đất. Vị trưởng lão trừng mắt giận dữ nhưng chẳng thể thốt nên lời.
Không những rút một cây.
Đàn Hoa dứt khoát nhổ sạch sẽ toàn bộ số kim châm găm trên người chàng ném lăn lóc sang một bên. Lúc này trông chàng có vẻ không còn đau đớn khó chịu như ban nãy nữa.
Nàng khẽ khàng thì thầm: "Nhị ca, ta đến muộn mất rồi."
Mưa xuân rỉ rả li ti tựa như những sợi lông trâu, phủ mờ vạn vật trên thế gian.
Đàn Hoa vươn bàn tay, vuốt ve khuôn mặt gầy hóp chỉ còn trơ lại lớp da mỏng dính của Dương Tri Húc.
Nàng thì thầm: "Nếu thực sự quá đỗi mệt mỏi, muốn đi... thì cứ an tâm mà đi đi huynh."
Dương Tri Húc đang nằm vắt vẻo trên bãi cỏ non, gối đầu lên cánh tay, nhàn nhã ngắm nhìn khoảng không trung bao la.
Thiên đường quả thực tuyệt mỹ, những đám mây khổng lồ bồng bềnh chiếm trọn một nửa bầu trời trong xanh vời vợi.
Chàng đang làm gì ở chốn bồng lai này? Chính chàng cũng chẳng rõ nữa. Có lẽ là đang chờ đợi, đợi đám người kia buông tha cho chàng.
Quá nhiều người đang bám víu níu kéo chàng. Nam phụ lão ấu đủ cả. Họ ồn ào khóc lóc, thao thao bất tuyệt, cầu xin chàng ở lại, kêu gào chàng quay về, nài nỉ chàng hãy cố gượng thêm chút nữa.
Chàng chẳng buồn bận tâm nghe, cũng chẳng biết đường nào mà quay về dương gian nữa. Chàng cảm thấy ở nơi đây là tuyệt vời nhất, tự do tự tại, tiêu d.a.o tự tại.
Chàng bật mình thực hiện một cú nhào lộn điệu nghệ, thân thể nhẹ bẫng nhấc bổng khỏi t.h.ả.m cỏ. Miệng ngậm hờ một chiếc lá non, chàng thong dong rảo bước.
Bỗng từ phía sau vọng tới tiếng động lạ. Chàng thầm thở dài trong bụng, lẩm bẩm: Lại nữa rồi, lại đến bắt ta quay về nữa chứ gì.
Chàng quay đầu lại, nhưng trước mắt lại là một con bạch mã.
"Ây da! Đẹp quá!" Chàng hớn hở bước tới, vuốt ve chiếc cổ thon dài của con bạch mã. Con bạch mã cũng thân thiện rúc đầu vào cọ cọ gò má chàng.
Dương Tri Húc bật cười rạng rỡ, cũng cọ cọ lại vào mặt nó.
Bạch mã khẽ giậm chân, Dương Tri Húc hỏi: "Sao thế?"
Bạch mã khẽ lắc đầu, Dương Tri Húc tò mò suy đoán: "Lẽ nào, ngươi muốn tiễn ta một đoạn đường?"
Bạch mã khẽ hí vang một tiếng. Dương Tri Húc vui vẻ nói "Được thôi", sau đó thoăn thoắt phi lên lưng ngựa. Con ngựa chồm hai chân trước lên cao, hý vang một tiếng oai dũng rồi lao v.út về phía trước.
Gió rít mạnh bên tai, thổi bay mọi muộn phiền thế tục. Đất trời rộng mở bao la, cỏ cây trải t.h.ả.m nhấp nhô lượn sóng. Vó ngựa sải bước dũng mãnh trên thảo nguyên xanh mướt. Dương Tri Húc giang rộng đôi cánh tay, reo hò sảng khoái: "Thống khoái! Thật thống khoái! Ha ha ha!"
Chàng dường như chưa từng cảm thấy thư thái và vui sướng đến thế bao giờ.
Chẳng rõ đã rong ruổi được bao lâu, bọn họ đặt chân tới bờ một con sông. Con ngựa từ từ dừng lại.
Dương Tri Húc nhảy xuống ngựa, ngẩn người ngắm nhìn dòng sông, khẽ hỏi: "Chỉ tới đây thôi sao?"
Bạch mã im lặng không đáp.
Dương Tri Húc cười xòa: "Thôi được rồi, vậy... hẹn ngày tái ngộ nhé."
Chàng lững thững lội xuống dòng nước lạnh giá, hướng về phía bờ bên kia mịt mù sương khói. Mới đi được lưng chừng, chàng ngoảnh đầu nhìn lại.
Bạch mã vẫn đứng im lìm trên bờ, lẳng lặng dõi theo bóng chàng. Chàng sững người, giơ tay vẫy vẫy, gọi lớn: "Ngươi quay về đi! Đa tạ ngươi! Đa tạ ngươi nhiều lắm!"
Chàng tiếp tục lội qua sông, nhưng bước chân bỗng chốc khựng lại. Lồng n.g.ự.c nghẹn đắng khó tả, chàng hít một hơi thật sâu, rồi đột ngột xoay phắt người lại.
Một luồng cuồng phong thình lình nổi lên dữ dội. Con bạch mã trên bờ bỗng chốc phát ra vầng hào quang ch.ói lóa. Chòm bờm trước trán bị gió hất tung, làm lộ ra một vết hằn đỏ tươi như m.á.u.
Dương Tri Húc tức thì rơi lệ như mưa.
Phải diễn tả thế nào đây, phải nói thế nào cho đành?
Trái tim chàng chợt nảy sinh một nỗi luyến lưu cồn cào, nhưng khốn nỗi... đôi chân lại đang giẫm bên dòng Vong Xuyên ranh giới âm dương cách biệt.
Ngày hôm đó, Dương Tri Húc tỉnh lại.
Vị trưởng lão mừng rỡ tới phát điên, tay nâng niu tờ giấy chi chít chữ, giọng run lẩy bẩy: "Hữu dụng! Thật sự hữu hiệu! Đây đúng là giải d.ư.ợ.c rồi!"
Trưởng lão đỡ lấy bờ vai khẳng khiu của chàng, xúc động nói: "Ngọc Lang, cậu có biết không, mấy hôm trước có một vị cô nương tìm tới đây. Lão phu nhận thấy trên người cô nương ấy cũng có vết tích của Khổ Lao độc. Đây là phương t.h.u.ố.c do chính tay nàng để lại, đều là những vị thảo d.ư.ợ.c thô chưa qua sao tẩm, thậm chí còn có cả vài loại rau quả tầm thường rẻ tiền. Nàng dặn rằng nếu cậu…… cậu vẫn còn chống chọi được, thì hãy cứ y theo trình tự này mà ăn uống. Cứ kiên trì ăn như vậy là có thể triệt tiêu được Khổ Lao độc. Lão phu thấy phương pháp này kỳ lạ quá đỗi, nhưng quả thực hiệu nghiệm! Ngọc Lang à, không ngờ giải d.ư.ợ.c lại đơn giản đến vậy! Thật sự có thể giải độc! Có thể cứu sống cậu rồi!"
Dương Tri Húc vừa trải qua cơn thập t.ử nhất sinh, linh hồn còn đang lơ lửng giữa ranh giới sinh t.ử, thần trí hãy còn mơ màng hồ đồ, những lời nói bên tai lúc được lúc mất. Chàng nhìn ra bầu trời ch.ói chang ánh nắng ngoài kia. Do chịu quá nhiều mũi kim đả thông kinh mạch nên thị lực của chàng đã bị suy giảm đáng kể. Cho dù đã tỉnh táo lại, trước mắt vẫn là một mảng mờ mịt, chàng cảm thấy chốn dương gian này xa xôi và tẻ nhạt, thua xa khoảng thảo nguyên xanh ngát, tràn ngập tiếng cười trong giấc mộng.
Chỉ là……
Chỉ là……
Chàng nhắm nghiền đôi mắt. Giọt nước mắt trong suốt lăn dài trên gò má hốc hác, chầm chậm thấm ướt một mảng gối.
