Xuyên Thành Bà Lão Cực Phẩm, Người Ta Chạy Nạn Còn Tôi Khai Hoang - Chương 161: Tự Lực Cánh Sinh
Cập nhật lúc: 05/02/2026 10:01
Tự mình quyên tiền mua hạt giống?
Từ Căn Hữu méo mặt, chút tiền bán than cuối năm ngoái anh ta đều đem mua lương thực hết rồi, giờ đào đâu ra tiền nữa. Nhưng nếu không mau ch.óng mua giống, vốn dĩ vụ lúa mạch đông đã thất thu, giờ mà thiếu cả ngô thì năm nay lại cầm chắc cái đói.
Điền Quý cũng nhăn nhó chẳng kém. Toàn bộ tiền bạc ông có đều đã dồn vào mua gạo ở trấn đợt trước, trên người giờ chẳng còn một xu.
Thấy hai người khó xử, Giang Chi đợi một lát mới nói: "Các anh cứ đi hỏi những người khác xem có gom góp được đồng nào không, tôi và Tiểu Mãn có thể bỏ ra tổng cộng một trăm văn!"
Trên người cô dẫu có vài lượng bạc, nhưng trong tình cảnh này tuyệt đối không thể bao biện làm thay hết thảy. Cô là thôn trưởng chứ không phải mẹ thiên hạ, không thể nuôi dưỡng một lũ "trẻ ranh khổng lồ" chỉ biết há miệng chờ sung!
Hơn nữa, cũng không thể dễ dàng mở miệng mượn hay xin xỏ chỗ Trương quân đầu. Nợ nần thì sớm muộn cũng phải trả, nếu ngay từ đầu đã phá hỏng quy tắc, tạo thành thói quen ỷ lại, thì sau này phàm có chuyện gì họ cũng chẳng thèm gánh vác mà chỉ trông chờ người khác giúp đỡ.
"Đa tạ thôn trưởng Giang, tôi đi bàn bạc với mọi người ngay đây, ai có bao nhiêu phải bỏ ra bấy nhiêu, mua hạt giống là việc hệ trọng!" Điền Quý nghiến răng quả quyết. Có lời này của Giang Chi, ông cũng phải thể hiện thái độ. Ông biết lần trước Giang Chi bán bấc đèn và dép cỏ được hai trăm văn, giờ bỏ ra một trăm văn tức là đã dốc hết số tiền còn lại sau khi chi tiêu rồi.
Từ Căn Hữu cũng gật đầu: "Thím Giang, tôi cũng sẽ nghĩ cách!" Mọi người đều phải góp sức, dẫu chỉ có dăm ba văn cũng quý.
Thấy hai người đồng ý đi vận động dân làng, Giang Chi bấy giờ mới đem chuyện Trương quân đầu yêu cầu nhân công c.h.ặ.t cây ra nói: "Chúng ta phải tranh thủ ươm mầm gieo giống thật nhanh để còn dồn thời gian đi làm lao dịch."
Nghe đến việc phải đi lao dịch ngay, Từ Căn Hữu và Điền Quý chẳng có phản ứng gì quá lớn. Trước đây năm nào cũng có hai tháng đi sửa đường, đắp đê, nấu muối hay đào giếng. Chẳng những phải đi xa vạn dặm, không có cơm ăn tiền công, mà trời đông giá rét vẫn phải xuống nước làm việc, nếu không thì phải nộp hai lượng bạc "tiền thế thân". Đám quan lại thu thuế đúng là lũ lòng lang dạ thú! Hai lượng bạc với dân nghèo đâu phải con số nhỏ, không có tiền thì chỉ có nước bỏ mạng, c.h.ế.t hay bệnh đều phải tự chịu. Thế mà đường xá đê điều có bao giờ sửa xong đâu, năm nào cũng sửa, năm nào cũng sụp, năm nào cũng bắt phu.
Khi thời gian lao dịch kéo dài, "tiền thế thân" đương nhiên cũng tăng lên, nhà nào đông người mỗi năm phải nộp tới năm lượng bạc. Thuế nặng hơn hổ dữ, đúng là khổ không thấu trời. Mà nay Tân quân đã nói, sau này không phải nộp thuế cao như vậy nữa, lao dịch cũng có thể dùng tiền công thông thường để thay thế, thời gian không quá một tháng.
Người dân thấp cổ bé họng chẳng hiểu gì về tranh đấu triều đình, ai là Vương ai là Hoàng, càng chẳng hiểu gì về giang sơn thiên hạ. Lời của Hoàng đế đối với họ còn chẳng bằng lời của quan huyện. Họ chỉ biết rằng dù thời nào thì cũng phải tự cày ruộng nuôi thân, nộp thuế đi phu, sống kiếp lầm lũi như kiến cỏ, một ngày không làm là một ngày không ăn. Ai giúp họ sống dễ thở hơn một chút, người đó chính là người tốt!
Thấy họ không phản đối, Giang Chi nói tiếp: "Trương tuần kiểm bảo rồi, cây c.h.ặ.t xuống sẽ thuộc về chúng ta."
"Thôn trưởng Giang, có thật không? Chúng ta được lấy gỗ sao?" Điền Quý phấn khởi ra mặt. Không phải đi phu giữa mùa đông, lại làm ngay cửa nhà mình, lại còn có gỗ mang về. Ông đang cần gỗ để sửa sang nhà cửa, thế này chẳng khác nào nhặt được bảo vật.
"Phải, không chỉ có gỗ, huyện nha còn hứa sẽ miễn thuế năm nay cho làng ta..."
Nghe đến chuyện miễn thuế, đôi mắt ủ rũ của Từ Căn Hữu bỗng sáng rực lên: Miễn thuế! Kể cả tính theo mức thuế một phần mười của quân mới, nhà anh ta cũng tiết kiệm được cả trăm cân lương thực.
"Tốt quá, chúng tôi đi báo cho mọi người ngay đây!" Từ Căn Hữu nắm c.h.ặ.t t.a.y, hạ quyết tâm. Trong lòng anh, lương thực vẫn là nhất, nếu túng quá anh sẽ vứt bỏ cái mặt già này đi lên trấn cầu cứu người em trai cho vay tiền.
Việc vận động góp tiền cứ để Từ Nhị Thụy lo liệu. Giang Chi cũng không ngồi không. Cô tìm đến Lưu thị - mẹ của Từ Căn Hữu và Điền thị để trò chuyện, vừa là để thắt c.h.ặ.t tình cảm, vừa để tìm hiểu tình hình phụ nữ trong làng. Chẳng ngờ nguyên thân trước đây quá mức hung hãn, cô còn chưa kịp mở lời đã khiến mẹ chồng nàng dâu Lưu thị run cầm cập, hỏi gì cũng lắc đầu bảo không biết. Tình cảnh này đúng là dở khóc dở cười, Giang Chi đành nói vài câu bâng quơ rồi rời khỏi lều, đi dạo một vòng quanh làng.
Nhóm Trương quân đầu hiện đã dọn vào lều quân y, người ít hơn trước và có tường rào ngăn cách với làng. Họ mở cổng riêng, không cho phép dân làng tùy tiện ra vào. Phần còn lại của làng là những căn lều tạm bợ. So với cảnh nhếch nhác cuối năm ngoái, giờ đây các lều đã tạm trú được người, dù mương rãnh vẫn đào bới lung tung, củi lửa chất đống bừa bãi trước sau. "Có thực mới vực được đạo", khi cái bụng chưa no thì chẳng thể bàn đến lễ nghi hay nếp sống văn minh, Giang Chi lúc này cũng đành nhắm mắt làm ngơ.
Cô vừa đứng lại một lát thì Từ Nhị Thụy đã dẫn một nhóm người đi tới: "Mẹ, mọi người bảo có thể góp tiền, nhưng muốn hỏi xem mua bán thế nào?"
Đứng sau anh, Từ Căn Sinh và những người khác đều vừa phấn khởi vừa lo âu: Được miễn thuế cơ mà! Trồng được bao nhiêu là của mình bấy nhiêu, nhưng tiền nong và hạt giống sẽ chia chác ra sao?
Giang Chi không có nhà trong làng, lều trại của các hộ thì chật chội nên đành phải "làm việc ngoài trời". May sao đang là tháng Ba, nắng chiều rực rỡ xuyên qua những tán lá non, bóng cây loang lổ trên mặt đất, không lạnh cũng chẳng nóng. Loạn binh phá làng nhưng bàn đá tường đá vẫn còn, kê thêm vài cái đôn cỏ là có chỗ ngồi, đặt tấm ván lên là thành cái bàn. Thế là một đám đàn ông quây lại bàn chuyện tiền nong mua giống. Người mười văn, kẻ hai mươi văn, ai còn chút của nả lận lưng cũng nghiến răng móc ra một nắm tiền đồng.
Điều khiến Giang Chi kinh ngạc là trong đám dân lưu tán ngoại lai lại có một vị Tú tài đã từng đèn sách. Lúc này, Hạ Thư Ngôn đang đứng trước mặt Giang Chi. Trông anh ta chừng hăm bảy, hăm tám tuổi, toát lên vẻ u sầu của một thư sinh thất thế. Sắc mặt nhợt nhạt, thân hình gầy gò mảnh khảnh như thể chỉ cần một cơn gió là có thể thổi bay. Chiếc áo dài trên người chắp vá chằng chịt, giặt đến bạc phếch, nhưng điều khiến người ta xót xa nhất là ánh mắt trống rỗng, thần sắc thẫn thờ. Đứng trước mặt mọi người, anh ta chẳng giao tiếp với ai mà chỉ lầm bầm học thuộc lòng các bài kinh văn.
Đây rõ ràng là một người mắc bệnh tâm trí! Mẹ Hạ - người dẫn Hạ Thư Ngôn đến - kéo tay Giang Chi, khẩn khoản cầu xin: "Thôn trưởng Giang, con trai tôi đi thi mãi không đỗ, ở học đường bị đồng môn chế giễu, về nhà lại bị người đời mỉa mai, thế nên nó mới bị mê muội tâm trí. Hàng ngày nó chỉ biết đọc sách thôi chứ không phải hạng võ biền điên dại hay đ.á.n.h mắng người khác đâu. Lang trung bảo đây là tâm bệnh, cần phải mở mang l.ồ.ng n.g.ự.c, đi ngao du sơn thủy. Chúng tôi thấy nơi này sơn thủy hữu tình nên mới dừng chân dưỡng bệnh, mong thôn trưởng đại lượng bỏ qua cho sự thất lễ của nó."
Giang Chi nghe ra được ẩn ý trong lời bà. Hạ Thư Ngôn bị lời ra tiếng vào làm cho phát điên, muốn ở đây tĩnh dưỡng. Cô không truy hỏi thêm nguyên nhân, cũng không hề lộ vẻ kỳ thị đối với anh ta, chỉ ôn tồn nói: "Hạ tẩu t.ử đừng lo, tôi đang cần một vị Tú tài giúp việc ghi chép sổ sách đây."
Mẹ Hạ gật đầu: "Tôi đã nghe công t.ử nhà bà nói rồi. Thư Ngôn nhà tôi tuy không chuyện trò với ai, nhưng chữ nghĩa và tính toán thì vẫn làm được."
Giang Chi suýt bật cười, mình vừa mới làm thôn trưởng mà Từ Nhị Thụy đã được người ta gọi là "công t.ử" rồi! Tuy nhiên, nghe lời lẽ này, cô lại nhìn mẹ Hạ thêm vài lượt. Bà tuy lớn tuổi hơn cô, mặc áo vải thô đầy miếng vá, da dẻ vàng võ, đôi bàn tay đầy những vết sẹo tím đỏ do nứt nẻ vì lạnh, trông đúng cốt cách một người lao động khổ cực. Thế nhưng lưng bà vẫn thẳng, cử chỉ khiêm cung lễ độ, ngôn hành khác hẳn với những phụ nữ thôn quê tầm thường.
Hạ Thư Ngôn quả thực có thể ghi chép sổ sách. Tuy hành xử khác thường nhưng hễ cầm đến giấy b.út là anh ta lại trở nên tỉnh táo hơn hẳn. Những đồng tiền lẻ tẻ, vụn vặt của dân làng được anh ta dùng nét chữ tiểu khải đẹp mắt ghi chép lại vô cùng minh bạch, rõ ràng.
