Bốn Mươi Năm Không Con, Bà Phát Hiện Chồng Có Ba Con Riêng - 10
Cập nhật lúc: 22/06/2026 15:04
PHẦN KẾT
Ngày tháng trong tù trôi chậm hơn bên ngoài.
Nhưng dù chậm đến đâu, ngày tháng vẫn cứ trôi qua từng ngày.
Chẳng biết từ lúc nào, mấy cuốn lịch đã được lật hết.
Đến năm thứ ba Chu Mẫn vào tù, người trong buồng giam đã thay hai lượt, máy móc trong tổ may cũng được đổi sang một lô mới.
Tay nghề làm găng tay của bà ngày càng thành thạo.
Sau đó bà được điều sang tổ kiểm tra chất lượng, chuyên kiểm tra đường chỉ của người khác có thẳng hay không, khoảng cách mũi kim có đều hay không.
Quản giáo nói bà làm việc tỉ mỉ, là một một người thạo việc.
Chu Mẫn nghe xong cũng không có phản ứng gì, chỉ gật đầu rồi tiếp tục cúi xuống làm việc.
Bà không nói nhiều.
Các hoạt động trong tù bà đều tham gia, lao động cũng rất nghiêm túc.
Khi ra sân vận động, bà một mình đi vòng quanh sân.
Bên cạnh sân trồng một hàng cây ngô đồng.
Mùa xuân nảy chồi mới, mùa thu rụng lá, rất giống cây ngoài cửa sổ căn nhà của bà ở Thượng Hải.
Đôi khi đang đi, bà sẽ dừng lại, đưa tay đón một chiếc lá ngô đồng đang rơi xuống.
Bà nhìn một lúc, sau đó buông tay để chiếc lá tiếp tục rơi.
Đến năm thứ năm, bà nhận được một lá thư.
Trên phong bì là nét chữ xa lạ, địa chỉ gửi từ Thượng Hải.
Bà mở ra xem.
Đó là thư của thím Lưu dưới tầng.
Trong thư, thím Lưu nói mình đã chuyển đi, con trai đón bà đến Tô Châu dưỡng già.
Trước khi đi, bà nhớ đến Chu Mẫn, nhờ người hỏi thăm địa chỉ rồi viết thư gửi lời hỏi han.
Trong thư còn kẹp một tấm ảnh.
Đó là tòa nhà Chu Mẫn từng sống.
Cây ngô đồng dưới tầng vẫn còn, lá xanh bóng.
Thím Lưu nói những người hàng xóm cũ trong tòa nhà vẫn thường nhắc đến bà.
Chị Trương đã chuyển đến Phố Đông.
Ông Vương già qua đời năm ngoái.
Cửa hàng tạp hóa đã đóng cửa.
Bây giờ dưới tầng vắng vẻ hơn nhiều.
Chu Mẫn đọc lá thư ấy nhiều lần.
Bà cầm tấm ảnh lật qua lật lại xem.
Cây ngô đồng đã to hơn trước một vòng, cành vươn đến trước bệ cửa sổ tầng ba.
Bà nhìn chằm chằm cửa sổ tầng ba rất lâu.
Chậu cây măng tây cảnh trên bệ cửa vẫn còn.
Nó đã khô một nửa nhưng vẫn sống.
Đó là chậu cây trước đây Trình Quốc An nuôi.
Không biết bây giờ hàng xóm đang tưới nước, hay thỉnh thoảng người quản lý khu nhà chăm sóc.
Bà cất lá thư và tấm ảnh vào một chiếc túi vải nhỏ dưới gối, để cùng với tấm ảnh gia đình kia.
Trong túi còn có một lá thư khác.
Đó là lá thư bà nhận được vào năm thứ hai trong tù, do chị gái của Chu Mẫn gửi đến.
Trong thư, chị gái khóc rất lâu, nói không ngờ em gái đời này lại phải chịu khổ như vậy.
Chị còn nói mình đã già, chân cẳng không tốt, không thể đến thăm bà.
Chị gửi một ít tiền để bà mua đồ ăn trong tù.
Chu Mẫn viết thư trả lời.
Bà viết ba trang giấy rồi gấp lại gửi đi.
Bà nói với chị rằng mình vẫn ổn, ăn no, ngủ được, bảo chị đừng lo lắng.
Sau đó chị gái lại gửi tiền thêm hai lần, cũng viết thêm mấy lá thư.
Trong thư đều là chuyện gia đình bình thường.
Cháu trai kết hôn.
Cháu gái m.a.n.g t.h.a.i đứa thứ hai.
Con ch.ó nhỏ trong nhà bị lạc rồi lại tìm thấy.
Chu Mẫn đọc từng lá thư rồi trả lời từng lá.
Thư trả lời càng viết càng ngắn.
Sau đó chỉ còn một tờ giấy, viết vài câu như “Em vẫn ổn”, “Mọi người giữ gìn sức khỏe”.
Chị gái cũng không chê bà ít lời, vẫn gửi tiền và viết thư như cũ.
Thậm chí còn thường xuyên hơn khi họ còn sống ở quê.
Đôi lúc Chu Mẫn nghĩ, cả đời bà thật ra không phải người giỏi tạo quan hệ.
Từ nhỏ bà đã không biết lấy lòng người khác, cũng không biết nói lời hoa mỹ.
Bà làm việc trong nhà máy ba mươi năm, bạn bè cũng chỉ có hai ba người.
Nhưng hai ba người ấy không ai bỏ chạy khi bà gặp khó khăn nhất.
Thím Lưu đã nhiều tuổi như vậy vẫn nhờ người hỏi địa chỉ rồi viết thư cho bà.
Chị gái cứ vài tháng lại gửi tiền.
Tuy tiền không nhiều, nhưng tấm lòng ấy khiến bà cảm thấy trên đời vẫn có người nhớ đến mình mỗi khi tỉnh giấc giữa đêm.
Đến năm thứ mười, nhà tù tổ chức biểu diễn văn nghệ.
Chu Mẫn được kéo vào tham gia một tiết mục hợp xướng.
Bài hát là “Tôi và Tổ quốc tôi”.
Hơn mười người mặc trang phục màu xanh giống nhau đứng trên sân khấu.
Ánh đèn chiếu đến ch.ói mắt.
Chu Mẫn đứng ở ngoài cùng hàng thứ ba, môi mấp máy theo mọi người, giọng hòa vào đám đông, không thể nghe rõ.
Nhưng khi hát đến câu cuối cùng, sống mũi bà đột nhiên cay lên, suýt rơi nước mắt.
Bà cũng không biết tại sao mình muốn khóc.
Có lẽ giai điệu ấy quá quen thuộc, khiến bà nhớ đến trước đây mỗi năm nhà máy đều tổ chức cuộc thi hát vào dịp Quốc khánh.
Khi ấy Trình Quốc An vẫn còn trẻ, ngồi dưới sân khấu vỗ tay cho bà.
Cũng có lẽ ánh đèn quá sáng, khiến bà cảm thấy mình vẫn giống một người bình thường.
Khi đứng trên sân khấu, bà chỉ là một bà lão đang hát, không phải Chu Mẫn từng g.i.ế.c người.
Sau khi hát xong trở về buồng giam, bà ngồi bên giường rất lâu.
Trong tay bà nắm chiếc túi vải nhỏ chứa những lá thư và ảnh.
Bà sờ lá thư của gia đình, sau đó lại sờ tấm ảnh gia đình kia.
Đã mười năm.
Những khuôn mặt trong ảnh bắt đầu trở nên mơ hồ, giống như nhìn người qua lớp kính mờ.
Đường nét vẫn còn, nhưng chi tiết đã không còn nhìn rõ.
Bà đột nhiên nhận ra một chuyện.
Dường như bà đã không còn nhớ rõ khuôn mặt Trình Quốc An.
Trước đây, những đêm trằn trọc không ngủ được, chỉ cần nhắm mắt là bà có thể nhìn thấy khuôn mặt ấy.
Khi ông cười.
Khi ông nhíu mày.
Khi ông ăn.
Khi ông ngủ.
Nhưng bây giờ khi bà nhớ lại, khuôn mặt ấy giống như bức tranh mực bị nước làm nhòe.
Ngũ quan đã loang ra, chỉ còn lại một cái bóng mơ hồ.
Thứ bà có thể nhớ rõ ngược lại là nhiệt độ trên những ngón tay ông, tiếng bước chân khi ông đi, tiếng húp mì khi ông ngồi ăn đối diện bàn.
Những chi tiết ấy vẫn còn, nhưng khuôn mặt đã biến mất.
