Đám Người Đón Dâu Đến Muộn Nửa Canh Giờ - Chương 6
Cập nhật lúc: 20/06/2026 17:01
29
Có một ngày ta đứng bên cửa sổ nhìn ba cây mai trong sân. Bùi Hằng không biết từ khi nào đã đứng sau lưng ta.
Hắn hỏi: “Đang nghĩ gì vậy?”
Ta nói: “Đang nghĩ đến mẫu thân ta. Bà đi khi ta còn quá nhỏ, nhỏ đến mức gần như không nhớ rõ mặt bà. Nhưng ta cảm thấy bà hẳn là người thích hoa mai. Vì trong cuốn sách bà để lại có kẹp cánh mai. Lại còn từng vẽ một bông mai trên giấy.”
Hắn đứng sau lưng ta không đáp.
Một lúc sau hắn mới lên tiếng: “Vậy nàng thay bà ấy nhìn thêm vài lần đi.”
Ta nói: “Được.”
30
Có một ngày Bùi Hằng nói: “Năm nay hoa mai nở nhiều hơn năm ngoái.”
Ta nói: “Chàng đếm rồi à?”
Hắn nói: “Đếm rồi — năm đầu nở năm bông, năm thứ hai nở mười ba bông, năm nay lại nhiều hơn năm ngoái mấy bông.”
Trong lòng ta hơi kinh ngạc.
Hắn vậy mà thật sự đi đếm.
Ta cúi đầu uống một ngụm trà, giả vờ như không để ý. Đợi hắn không có mặt mới lén đi đếm một vòng — mười lăm bông. Nhiều hơn năm ngoái một chút.
31
Có một ngày Bùi Hằng từ ngoài về, trong tay cầm một gói giấy.
Hắn nói lúc đi qua một cửa hàng tranh chữ, thấy một bức mai đồ. Vẽ là hồng mai. Tư thế cành trông khá giống cây trong sân. Hắn đứng một lát, không mua.
Hắn đặt gói giấy lên bàn, mở ra — bên trong là một cuộn giấy. Không phải mai đồ. Mà là một tờ giấy Tuyên thành trắng.
Hắn nói: “Vẽ một bức đi. Mẫu thân nàng từng vẽ. Nàng cũng nên biết vẽ.”
Ta cầm tờ giấy ấy đứng bên cửa sổ một lúc.
Trải giấy ra, mài mực. Ta không biết vẽ mai. Nhưng ta nghĩ — khi mẫu thân ta vẽ mai trên cuốn sách kia, chắc hẳn bà cũng không giỏi lắm. Chỉ là thấy nên vẽ, vậy thì vẽ thôi. Ta cũng vậy.
Ta vẽ một nhánh mai trên giấy. Cành vẽ hơi thô, cánh hoa vẽ không đều. Nhưng dáng của nhánh mai ấy — gần như giống hệt cây mai trong sân.
32
Ngày lập xuân, sáng sớm Bùi Hằng từ bếp bưng một bát bánh xuân vào đặt lên bàn. Nói rằng đã lập xuân rồi. Theo tục lệ phải ăn bánh xuân. Hắn dậy sớm hơn ta, bột là hắn nhào, bánh là hắn áp.
Bánh áp hơi dày — đại khái là ít khi xuống bếp. Nhưng mép của mỗi chiếc bánh xuân đều được ép rất c.h.ặ.t, không hề nứt.
Ta nói: “Khi nào chàng học được áp bánh vậy?”
Hắn nói: “Hồi nhỏ ở Bắc Cảnh đã biết rồi. Sau này rất lâu không làm, tay cũng sinh.”
Ta cầm một chiếc c.ắ.n một miếng — vỏ bánh hơi cứng, nhưng nhân bên trong rất ngon. Giá đỗ xào giòn, trứng không già không sống, gia vị nêm vừa đúng.
Hắn ngồi đối diện nhìn ta c.ắ.n một miếng, đợi ta nuốt xuống mới hỏi: “Ăn được không?”
Ta nói: “Không chỉ ăn được, còn khá ngon.”
Hắn không đáp. Cúi đầu cầm chiếc của mình lên cũng c.ắ.n một miếng.
Ngoài cửa sổ, ba cây mai trong sân đang vươn cành dưới ánh sáng buổi sớm, những chồi non nhỏ xíu đã bắt đầu căng lên. Mùa xuân đến rồi.
Bỗng nhớ tới đêm ba năm trước — ta một mình ngồi trong bóng tối, nghe tiếng gió ngoài cửa sổ, âm thầm nhẩm trong lòng: đừng tin bất kỳ ai trong Bùi gia.
Bây giờ không sợ nữa.
Vì người ta gặp, đã dùng ba năm thời gian và ba cây mai để chứng minh một việc — hắn là người có thể tin được.
33
Ngày xuất giá, ta từng nói với phụ thân — ta sẽ không để Bùi gia dễ chịu.
Sau này có một lần ngồi dưới hiên nhìn cây mai, bỗng nhớ lại câu đó, ta không nhịn được cười một tiếng.
Ta không khiến Bùi gia khó chịu.
Nhưng trong phủ này lại có thêm một cây. Sau đó lại thêm hai cây.
34
Có một ngày ta đi thỉnh an lão phu nhân, bà đang ngồi cạnh cửa sổ đọc một cuốn sách cũ.
Bà khép sách lại, đặt lên đầu gối, im lặng rất lâu mới lên tiếng. Bà nói: “Lúc con vừa vào cửa, ta thấy con không được. Quá gầy, nói chuyện quá nhẹ, nhìn như không chống nổi tòa phủ này.”
Ta nói: “Vậy bây giờ thì sao?”
Im lặng một lúc: “Bây giờ thấy lúc đầu ta nhìn lầm rồi.”
Nói xong bà không nói thêm. Đặt cuốn sách vào tay ta — là một cuốn thực phổ mà lão phu nhân dùng lúc còn trẻ. Trang đầu có vẽ một nhành mai. Vẽ còn ngay ngắn hơn nhành mai mẫu thân ta vẽ rất nhiều.
Bà nói: “Hồi trẻ ta cũng từng vẽ. Sau này không còn động b.út nữa.”
Rời khỏi phòng lão phu nhân, ta mở cuốn thực phổ ở hành lang. Bông mai ở trang đầu nét mực đã nhạt đi, nhưng dáng cành vẫn còn, có thể nhìn ra lúc vẽ nó người ấy đã rất dụng tâm.
Mai của ba thế hệ, không có cành nào treo trên tường. Nhánh của mẫu thân ta kẹp trong sách, đè suốt mấy chục năm; nhánh của lão phu nhân vẽ trên trang đầu, mực đã nhạt; nhánh ta vẽ trên giấy Tuyên thành, cành thô, cánh cũng không đều. Nhưng chúng quả thực đều đã nở. Nở ở đâu chẳng phải là nở.
35
Có một buổi chiều ta đẩy cửa sổ ra — cành của ba cây mai kia khẽ đung đưa trong gió. Sắc trời đang dần tối. Phía xa đã có nhà dân thắp đèn.
Đã bốn năm kể từ ngày ta vào phủ tướng quân.
Lâu rồi ta không còn nhớ đến tờ giấy ướt sũng ấy nữa. Đừng tin bất kỳ ai trong Bùi gia. Tờ giấy ấy ta vẫn giữ. Chữ đã nhòe thành một vệt bóng đen không còn nhìn rõ. Có lần thu dọn hộp gỗ, ta lật thấy nó, ngẩn người một lúc — suýt nữa quên mất còn có thứ này.
Mà ta thì đã không còn cần nó nữa.
Ngoại truyện 1
Có một ngày A Chỉ múc nước cho ta rửa chân. Nước hơi nóng, nàng lại đổ thêm nước nóng trong ấm, rồi dùng đầu ngón tay thử nhiệt độ.
Cúi đầu im lặng một hồi rất lâu, bỗng nàng lên tiếng: “Tiểu thư, có một việc nô tỳ vẫn chưa nói với người.”
Ta hỏi: “Việc gì?”
Nàng nói: “Đêm hôm người mới vào cửa, có người nhét vào tay nô tỳ một câu.”
Ta hỏi: “Câu gì?”
Nàng ngẩng đầu nhìn ta: “Đừng tin nhị tiểu thư. Nhất là những thứ nàng ta đưa tới.”
Ta hỏi: “Ai nói?”
Nàng nói: “Không biết. Người đó đội nón rộng vành, không nhìn rõ mặt, nhưng nghe giọng thì hẳn là một người đã lớn tuổi. Nói xong liền đi. Lúc ấy không biết thật giả, sợ làm người sợ, lại sợ là có người ly gián, nên không dám nói. Sau này nhị tiểu thư đi rồi, việc này cũng gác lại.”
Ta ngồi trên mép giường, ngâm chân trong nước ấm.
Tờ giấy ấy. Lời cảnh báo A Chỉ nhận được. Một người từ đầu đến cuối không hề lộ mặt.
Đến giờ vẫn không biết người đó là ai. Có thể là người trong viện lão phu nhân, có thể là cố nhân của Lâm Uyển, cũng có thể chỉ là một lão nô không đành lòng nhìn tân phụ vừa vào cửa đã gặp tai họa.
Không quan trọng nữa.
Quan trọng là — hắn nói đúng.
Ngoại truyện 2
Có một ngày Bùi Hằng từ ngoài trở về, dừng lại ở cửa một chút. Hắn cúi người nhìn một vật bên cạnh bậc cửa — ở đó đặt một rổ quả dại nhỏ. Màu đỏ nâu, cỡ ngón cái, ta không nhận ra là gì. Hắn cầm lên nhìn thử, nói là kỷ t.ử dại.
Ta hỏi: “Ai đặt vậy?”
Hắn nói: “Không biết.”
Nhưng thần tình của hắn lại cho ta biết hắn biết. Hắn mang rổ kỷ t.ử ấy vào bếp rửa một bát, bưng đến trước mặt ta.
Ta nếm một quả. Bề ngoài có một lớp chát nhạt, nhưng nhai ra rồi thì trong miệng toàn là vị ngọt.
Sau đó lại lần lượt nhận được vài món đồ không rõ ai gửi — một hũ mật ong nhỏ, một bó củi khô, vài cái đùi thỏ khô. Lần nào đồ cũng đặt ở cửa, người thì đã đi mất.
Ta biết là ai đặt. Thôn Liễu Hà không xa kinh thành lắm. Chồng của Tiểu Hòa tuy chân cẳng bất tiện, nhưng nhờ người mang vài món đồ vào kinh vẫn làm được. Họ nhớ ta. Không quên.
Rổ kỷ t.ử dại ấy không ăn hết. Ta để lại một ít, phơi khô cất trong một túi vải nhỏ. Không nỡ ăn hết.
Ngoại truyện 3
Năm này qua năm khác trôi đi. Mãi đến một ngày rất nhiều năm sau, có người hỏi Thẩm Đường năm ấy là làm sao ở bên Bùi tướng quân.
Nàng nói năm đầu thành hôn gần như chẳng nói với nhau mấy câu.
“Vậy hai người làm sao mà tốt lên được?”
Nghĩ một hồi rồi nói: “Từ câu hắn nói: ‘Trong phủ nếu có gì không quen, nàng cứ nói với ta’ mà bắt đầu. Chỉ một câu như vậy thôi, không còn gì khác nữa.”
