Đồng Tiền Của Ta Thông Đến Hiện Đại (cổ Xuyên Kim) - Chương 36: Thắp Sáng Một Ngọn Đèn
Cập nhật lúc: 22/03/2026 15:04
Khi cô trở về sơn động, trời vẫn chưa tối hẳn. Trong căn phòng nhỏ trong động đã sáng một ngọn đèn nhỏ.
Thiết Trụ tìm ba khúc gỗ dài gần bằng nhau, dùng dây cỏ buộc lại thành hình ba chân vạc, dựng giữa phòng. Ngọn đèn nhỏ được treo trên đỉnh.
Căn phòng sáng gần như ban ngày. Nhờ ngọn đèn này, trong động dường như cũng ấm áp hơn nhiều. Cô dự định trong vài ngày tới sẽ mua thêm hai cái nữa, sạc đầy điện rồi để sẵn trong sơn động dự phòng.
Dù sao Tiền đại tỷ đã nói Cứu Trợ Trạm không phải nơi ở lâu dài, chỉ được ở mười ngày. Cô đã ở đây mấy ngày rồi, đến lúc đó cũng không thể mặt dày ở lại mãi.
Tuy cô có thể quay về sơn động ở, nhưng khi ấy sẽ không còn chỗ để sạc điện cho đèn.
Xem ra vẫn phải hỏi Tiền đại tỷ xem có chỗ ở nào khác thích hợp không. Có lẽ có thể thuê một căn phòng, chỉ là không biết giá có quá đắt không. Nhà bên này hình như đều có điện, như vậy cũng không cần lo chuyện sạc đèn nữa.
Từ khi quen với sự tiện lợi của chiếc đèn nhỏ, cô không còn muốn mua đèn dầu hay nến nữa. Đèn nhỏ vừa tiện dùng lại không có khói dầu hay mùi lạ.
Thấy bọn trẻ đều ngoan ngoãn, cô chuẩn bị nhân lúc giờ tan tầm ở Hoa Quốc mà ra ngoài bán thêm một chuyến khoai lang nướng.
Trước khi đi, cô dặn Nhị Ni: “Nương mua một miếng đậu phụ rồi, con hầm cùng cải thảo với ít thịt làm một nồi thức ăn. Còn cơm thì con muốn nấu mì hay nấu cháo cũng được, hay là làm một nồi cơm trộn ăn đi.”
Cơm trộn ngon quá, đến giờ cô vẫn còn thấy thèm.
Nhị Ni nói: “Thôi, con vẫn làm mì sợi ăn đi, cái này con biết làm. Nếu nấu cơm trộn thì con sợ không canh được lửa.”
“Vậy hấp đi, hấp nhiều một chút để nương mang theo ăn ngày mai.”
“Ngày mai nương không về ăn cơm sao?”
“Ừm. Ngày mai nương định đi sang phía sau núi xem thử. Nương muốn đi xa một chút, đi đến tối. Buổi tối nương sẽ ngủ luôn ở Cứu Trợ Trạm, ban ngày hôm sau lại dành cả ngày đi bộ quay về.”
“Vâng!”
Trong lúc Nhị Ni nấu cơm, Tô Hợp Hương lại đến đại sảnh của Cứu Trợ Trạm xem cái đồng hồ treo tường. Cô phát hiện kim ngắn đang chỉ vào số 5.
Cô dần hiểu ra. Bên quê cô một ngày có mười hai canh giờ, còn ở Hoa Quốc lại là hai mươi bốn giờ. Kim ngắn trên chiếc đồng hồ này quay hai vòng thì mới là một ngày.
Số 5 có thể là giờ Dậu buổi chiều, cũng có thể là giờ Mão rạng sáng. Vậy hiện giờ chắc là đã qua giờ Dậu một chút.
Cách tính giờ bên này thật chính xác. Không trách Tiền đại tỷ thường nói chín giờ sẽ tới tìm cô.
Ra đến sân, cô lấy khoai lang đã nướng chín ra khỏi lò, rồi cho mẻ mới vào. Sau đó cưỡi xe ba bánh bắt đầu rao bán: “Khoai lang! Khoai lang nướng đây!”
Trên những con đường lớn phồn hoa, người qua lại vội vã, ô tô chạy như nước chảy, nhưng việc buôn bán lại không mấy tốt.
Ngược lại, ở những con hẻm nhỏ hay góc khuất, lại thường có người nghe tiếng rao mà ra mua.
Ngoài ra, lúc gần giờ học đường tan lớp thì bán chạy hơn hẳn. Khi bọn trẻ ùa ra khỏi cổng trường, có lẽ đã đói bụng. Chỉ cần chúng nói muốn ăn, cha mẹ hay ông bà gần như đều không tiếc tiền mua một củ.
Còn những nơi có nhiều quầy bán hàng tụ lại thì việc buôn bán cũng khá hơn, dường như mọi người đã quen đến những chỗ đó để mua đồ ăn.
Sau khi chạy xe rao bán khoảng một canh giờ, cô đã bán được hơn mười củ khoai nướng. Thu nhập như vậy khiến cô rất hài lòng. Nếu tính cả ngày, còn kiếm được nhiều hơn cả công việc phục vụ kia.
Chỉ là cô hơi thắc mắc, vì sao sang mùa khác mọi người lại không thích ăn khoai nướng? Nếu không thì cô sẵn sàng làm nghề này mãi.
Lúc này cô đang dần tiến đến chợ rau.
Cô thường đến đây vì nhận ra những cửa hàng trên đường lớn quá sang trọng và sáng sủa. Những quán ăn đủ loại, các cửa hàng gọi là “siêu thị”, tiệm quần áo, tiệm điện thoại, tiệm vàng bạc… đều khiến cô chùn bước, đến nhìn cũng không dám vào.
So ra thì khu chợ rau thân thiện hơn nhiều.
Ví dụ như tiệm lương thực, quán ăn sáng, cửa hàng hai tệ, hay tiệm bánh nhỏ có tủ kính trong suốt — cô đều dám bước vào hỏi giá.
Người ở đây khiến cô không thấy xa cách, vì vẻ mặt và quần áo của họ phần lớn giản dị mộc mạc, cũng ít trang điểm.
Những người ở các cửa hàng sang trọng bên ngoài thì khác. Lông mi dài, da trắng như tuyết, môi đỏ, đôi mắt đen to khác thường.
Ai nấy đều quá tinh xảo. Mỗi khi họ đến mua khoai nướng, Tô Hợp Hương thậm chí không dám ngẩng đầu nhìn thẳng.
Trời lạnh như vậy mà nhiều người vẫn mặc váy. Điều đó khiến cô rất khó hiểu.
Nếu họ không sợ lạnh, vậy vì sao thân trên lại mặc áo bông? Còn nếu thấy lạnh, sao lại mặc váy và để lộ đôi chân? Rốt cuộc là lạnh hay không lạnh?
Ngoài ra, cô còn phát hiện quanh chợ rau có rất nhiều cửa hàng bán những thứ cô cần, mà giá cả cũng nằm trong khả năng của cô, nên cô rất thích dạo khu này.
Chợ rau có hai lối vào. Bên ngoài mỗi lối đều có một con đường khá rộng, nhưng đường này không cho xe bốn bánh vào, chỉ có xe ba bánh hoặc xe hai bánh đi được.
Hai bên đường đều là cửa hàng: tiệm lương thực, quán ăn sáng, cửa hàng hai tệ, tiệm nông cụ…
Gần đây cô để ý một loại áo bán ở tiệm quần áo ven đường, giá hơn ba mươi tệ một chiếc. Cô nghĩ sau này có tiền cũng sẽ mua một chiếc.
Áo đó lông mềm xù xù, dài đến đùi, có thể mặc ngoài áo bông, màu sắc và hoa văn cũng rất đa dạng.
Cô thấy nhiều người trong chợ mặc loại áo này, còn người đi trên đường lớn thì không. Có lẽ đây là loại áo mặc khi làm việc, nhẹ và dễ giặt. Dù sao áo bông mùa đông giặt giũ cũng không tiện.
Một chiếc áo tốt như vậy mà chỉ mặc khi làm việc, thật là xa xỉ.
Cô đến tiệm bán nông cụ hỏi: “Ông chủ, ở đây có chậu than không?”
Bây giờ vẫn chưa vào mùa đông lạnh nhất, nhiệt độ trong phòng trong động còn chịu được.
Chỉ là Nàng không biết khi nhiệt độ xuống thấp hẳn, con sông ngoài sơn cốc có đóng băng không. Nếu có, trong phòng chắc cũng sẽ lạnh đến mức nước đóng băng.
Ông chủ nhất thời chưa hiểu: “Chậu than? Chậu than gì? Đốt tiền giấy à?”
“Là loại để sưởi tay, sưởi ấm ấy. Trong phòng lạnh quá.”
Ông chủ hỏi: “Trong nhà cô không lắp hệ thống sưởi à?”
“Không có, bên đó chỉ có nhà tôi ở.”
Tô Hợp Hương nghĩ thầm, có lẽ Cứu Trợ Trạm chính là dùng thứ gọi là “noãn khí”, nên trong đó mới ấm như mùa xuân.
Ông chủ nói: “À, vậy nhà cô ở nông thôn à?”
Ở trong núi chắc cũng được gọi là nông thôn, nên cô gật đầu.
“Nhà nông thôn thì dùng cái này được mà. Bếp đốt củi!” Ông chủ chỉ vào hai cái bếp đặt trước cửa tiệm.
Hóa ra đây là bếp. Một cái cao đến đầu gối cô, đen nhánh như làm bằng sắt, hình trụ tròn, to cỡ vòng eo của con trai út, trên mặt có hai lỗ.
Cái còn lại là bếp vuông bằng sắt mỏng, phía trên có một lỗ lớn.
Thì ra lỗ đó là để đặt chảo sắt lên. Không trách cô đã đến tiệm nông cụ mấy lần mà vẫn không nhận ra đó là bếp. Nếu ông chủ đặt một cái chảo lên trên, chắc cô đã nhận ra ngay.
“Ông chủ, cái bếp này bao nhiêu tiền?” Cô chỉ vào cái nhỏ hỏi.
“Loại nhỏ 180 tệ, loại lớn 580 tệ. Loại lớn tặng kèm cả bộ ống khói, chảo sắt, nắp nồi, kẹp than và xửng hấp.”
“Bếp nhỏ mà cũng 180 tệ à? Lại còn nhỏ như vậy, chắc nhét không được mấy khúc củi.”
Ông chủ giải thích: “Loại 180 này chỉ đốt được than đá. Cái vuông bằng inox kia thì đốt củi cũng được, đốt than cũng được.”
“Đốt than đá à? Than đá mua ở đâu?”
Cô đoán than đá chính là thạch than. Cô nhớ loại đó rất đắt, một cân khoảng 100–200 văn. Một cân bên cô ước chừng tương đương mười hai cân ở Hoa Quốc. Nếu tính rẻ nhất 100 văn thì mỗi cân cũng phải tám văn tiền.
Ông chủ thấy cô từng đến hỏi mấy lần nên kiên nhẫn nói: “Ở thôn Ngũ Động có một xưởng làm than tổ ong, cũng bán than đá. Nhưng xa lắm, hơn mười dặm đường.”
Thấy ông chủ không tỏ vẻ khó chịu, cô hỏi thêm: “Giá có đắt không? Bếp nhỏ một ngày phải đốt bao nhiêu than?”
“Mua ít thì đắt hơn, khoảng một tệ một cân. Mua cả tấn thì rẻ hơn. Một ngày chắc đốt khoảng năm đến mười cân, tính ra mỗi ngày tốn vài tệ, nhiều lắm thì mười mấy tệ thôi.”
Tô Hợp Hương thầm nghĩ, xem ra than đá ở bên này cũng không quá đắt. Tuy cái bếp nhỏ kia rẻ hơn một chút, nhưng sau này phải dùng than đá, lại thành một khoản chi tiêu lâu dài. Chi bằng bỏ thêm chút tiền mua cái bếp inox kia. Trong núi củi thì vô cùng vô tận, chủ yếu là không tốn tiền. Dù sau này có lúc dùng củi không tiện, cô cũng có thể mua ít than đá dự trữ, vài chục cân hoặc cả trăm cân đều được.
Đã không mua mà còn hỏi nhiều quá cũng không hay, cô bèn nói: “Vậy lần sau tôi lại tới mua. Hôm nay tôi mua tạm cái chậu than dùng trước.”
Ông chủ nói: “Bây giờ ít nơi bán chậu than lắm, cô thử ra tiệm đồ giấy xem.”
Tô Hợp Hương lập tức lộ vẻ khó xử: “Thế thì xui xẻo lắm, không may mắn.”
Chủ tiệm nông cụ bèn gợi ý: “Hay cô mua cái chậu inox hoặc cái chảo sắt cũ đi, miễn là đựng được củi là được.”
Mắt cô sáng lên. Đúng rồi, chảo sắt cũ thì trạm thu mua chắc chắn có. Cô lập tức cưỡi xe, chẳng mấy chốc đã đến trạm thu mua.
Bên trong trạm vẫn đèn sáng rực. Bà chủ cũng đang cố gắng mưu sinh.
“Bà chủ, có nồi cũ không? Tôi muốn dùng làm chậu than.”
“Có, nhiều lắm.”
Mỗi ngày trạm đều thu được vài cái nồi cũ. Với những chiếc chảo chống dính, một khi lớp phủ bong ra, nhiều người không dùng nữa vì sợ gây u.n.g t.h.ư, liền vứt đi hoặc bán sắt vụn.
Tô Hợp Hương đi sang khu để đồ sắt chọn một cái thấy khá ổn. Đó là một chiếc chảo sắt có hai quai, cầm lên khá nặng, chỉ là bị gỉ khá nhiều.
Mỗi lần đến trạm thu mua cô đều thấy thứ gì đó muốn mua, nhưng trong tay lại không có nhiều tiền. Lần này cô lại thấy một đống vải đủ màu sắc và hoa văn chất thành từng đống.
“Bà chủ, sao lại có nhiều vải thế?”
Bà chủ liếc nhìn rồi nói: “Đó là của một tiệm may làm mấy chục năm giờ đóng cửa. Đây là vải vụn họ tích lại bao năm, vì miếng nhỏ quá nên bán hết một lần.”
Khi mang tới, vải được đựng trong bao. Trước khi cân phải đổ ra kiểm tra xem có bị nhúng nước hay trộn thứ khác không.
“Bao nhiêu tiền một cân?” Thấy có vài miếng khá lớn, cô hỏi thử.
Bà chủ gật đầu: “Tính cho cô một tệ một cân.”
Tô Hợp Hương gật đầu rồi bắt đầu lựa. Bà chủ thấy cô đi tay không đến nên cũng không chú ý nữa.
Cô cẩn thận chọn một đống rồi cho vào bao đem cân, tổng cộng hơn tám cân.
Bọn trẻ lớn dần rồi, ngủ chung như vậy cũng không tiện. Khi nhìn thấy vải, cô liền nghĩ mua về may rèm treo trước giường, ít nhất cũng để hai anh em tránh ngại. Chờ thời tiết ấm lên thì cho Thiết Trụ sang phòng bên ngủ.
Ban đầu cô chỉ định chọn vài miếng, nhưng thấy nhiều miếng khá lớn, thậm chí có thể may quần áo, nên bất giác mua nhiều hơn.
Bà chủ trạm nói: “Vải tám tệ, chảo năm tệ.”
Thu dọn xong hai món đồ vừa mua, cô vốn định hỏi bà chủ xem chuyện mình lén dùng căn phòng trùm bạt trên mái tòa nhà kia có bị ai phát hiện không. Nhưng thấy bà chủ đang bận rộn, cô liền thôi, quay về Cứu Trợ Trạm.
Tối nay bán khoai lang được hơn tám mươi tệ, ở trạm thu mua tiêu mất mười ba tệ. Cộng thêm sáu mươi tệ hôm qua còn lại, hiện trong tay cô chưa đến một trăm ba mươi tệ.
Như vậy cũng ổn. Ít nhất tiền vẫn đang từ từ nhiều lên.
Trở lại Cứu Trợ Trạm, Tô Hợp Hương lấy phần cơm tối hôm nay trước, sau đó nhìn thời gian trong đại sảnh. Lúc này đã qua giờ Tuất, cũng tức là hơn bảy giờ tối.
Nhị Ni thấy cô mang về khá nhiều vải thì rất thích.
Những mảnh vải này màu sắc rất đẹp: đỏ, trắng, vàng, xanh lục, xanh lam, tím… đủ cả. Có miếng in hoa nhỏ, có miếng vẽ động vật, lá cây, cũng có loại kẻ sọc.
Chỉ là kích thước không đồng đều, miếng nhỏ thì cỡ lòng bàn tay, miếng lớn thì đủ để may áo ngắn hoặc quần cho Đồng Trụ.
“Con khâu trước một cái rèm đi, tối treo trước giường.” Tô Hợp Hương dặn Nhị Ni.
“Vâng, nương ăn chưa?”
“Chưa, nương ăn tạm một củ khoai lang nhỏ thôi.” Sau này khi mua khoai sống, cô định chọn loại to hơn. Như vậy giá bán sẽ cao, một củ có thể bán tám tệ, thậm chí hơn mười tệ. Khoai nhỏ khó bán giá cao, vì đa số người chỉ mua một củ làm món ăn vặt, chứ không mua nhiều.
“Nương, con để phần cơm cho nương rồi, có cần hâm nóng không?” Nhị Ni biết nương ít khi ăn bên ngoài rồi mới về, nên đều để sẵn thức ăn cho cô.
“Hâm lại đi, là cơm hấp à?”
“Vâng. Nồi đầu tiên nước nhiều quá nên bị nhão, bọn con ăn hết rồi. Sau đó con hấp thêm hai nồi nữa thì vừa. Có một thùng dầu con vẫn không biết dùng thế nào. Thấy bên Hoa Quốc người ta chiên trứng gà, con cũng chiên cho nương mấy quả, ngày mai nương mang theo ăn dọc đường. Dưa muối con làm cũng ăn được rồi, nương cũng mang theo hai hũ.”
“Được, Nhị Ni đúng là chu đáo.” Tô Hợp Hương cười đầy hài lòng. Tuy Thiết Trụ cũng là đứa trẻ ngoan, nhưng con gái vẫn tỉ mỉ hơn, biết quan tâm người khác.
Cô lại lấy cái chảo sắt cũ ra, nói với Thiết Trụ: “Thiết Trụ, con bỏ mấy khúc củi đang cháy dở vào đây. Nhớ mở hé cửa sổ một chút, nếu không sẽ bị trúng khói độc. Bên chúng ta mỗi mùa đông đều có người c.h.ế.t vì đốt củi sưởi ấm, có khi cả nhà c.h.ế.t hết. Sưởi một lúc cho phòng ấm lên rồi mang chảo ra ngoài.”
