Hoằng (泓) - 14
Cập nhật lúc: 18/06/2026 09:04
CHƯƠNG 14: SỐNG LẠI DƯỚI ÁNH MẶT TRỜI TỰ DO
Khi những dải sương mù đục ngầu của kinh thành vĩnh viễn bị bỏ lại phía sau vách đá mật đạo khép c.h.ặ.t, Giang Sở Bạch đã thực hiện một cuộc hành trình dài dằng dặc đi về phương Nam. Nàng mang theo chiếc túi gấm bọc kỹ tấm hộ tịch mới mang tên Thanh Thủy, ngân phiếu mười vạn lượng cùng thanh sáo trúc đơn sơ bên mình. Nàng đi qua những dãy núi cao trập trùng sương muối, đi qua những kinh đô sầm uất đầy rẫy tai mắt, cuối cùng dừng chân tại một thị trấn nhỏ ẩn mình giữa vùng sông nước Giang Nam quanh năm xanh ngắt.
Trấn nhỏ này yên bình đến mức như nằm ngoài vòng quay của thời gian và thế sự triều đường. Nơi đây có những con rạch nhỏ nước trong vắt uốn lượn quanh những ngôi nhà mái ngói rêu phong cổ kính, có những chiếc cầu đá nhỏ rợp bóng giàn hoa đậu biếc màu tím nhạt soi bóng xuống mặt nước phẳng lặng. Người dân trong trấn chất phác, đôn hậu, ngày ngày chèo thuyền hái sen, giặt áo bên bờ sông, gặp ai cũng nở nụ cười hiền lành, dung dị.
Chính tại nơi đất trời thanh khiết này, Giang Sở Bạch quyết định định cư, triệt để rũ bỏ mọi danh vọng đẫm m.á.u của hậu cung Đại Tề để sống lại một cuộc đời mới. Nàng thuê một căn nhà nhỏ bằng gỗ nằm ngay bên cạnh chân cầu đá, mở một quán trà nhỏ đơn sơ, đặt tên là Thanh Thủy Đường.
Thanh Thủy Đường không có những chiếc lư đồng khổng lồ thắp hương long diên diễm lệ, không có rèm lụa vàng gấm vóc nặng nề bóp nghẹt hơi thở. Quán trà chỉ có vài chiếc bàn ghế tre mộc mạc đặt dưới giàn hoa đậu biếc, một chiếc bếp lò bằng đất nung nhỏ nhắn luôn đỏ lửa và những chiếc chén gốm mộc màu thạch bích đơn sơ.
Mỗi buổi sáng, khi ánh mặt trời rực rỡ, ấm áp của miền Nam vừa ló rạng qua những rặng tre già, khẽ rọi những tia sáng tinh khôi xuống mặt sông lấp lánh, Giang Sở Bạch đã thức dậy. Nàng mặc bộ thường y bằng vải thô màu xanh nhạt quen thuộc, mái tóc dài đen nhánh được b.úi gọn gàng bằng chiếc trâm tre mộc mạc, không phấn son điểm xuyết, không một hạt ngọc rực rỡ nào trên người. Nàng bước ra sân, tự tay bốc những thanh củi khô xếp vào khe bếp, nhóm lửa thắp lên một ngọn lửa hồng ấm áp. Nàng thong thả múc từng gáo nước suối trong vắt từ chiếc chum sành lớn đổ vào ấm đất nung, kiên nhẫn ngồi đợi nước sôi, làn khói trắng bốc lên nghi ngút mang theo mùi củi khô thơm nồng, thanh khiết.
Nàng tự tay pha trà. Những b.úp trà xanh mướt được thu hoạch từ những ngọn đồi phía sau trấn, khi gặp nước sôi liền từ từ nở ra, tỏa ra một thứ hương thơm thanh mát, dịu nhẹ tựa như hương cỏ dại sau cơn mưa rào đầu mùa. Nàng chậm rãi rót trà ra từng chén gốm, đưa cho những người dân trấn nhỏ đi làm sớm ngang qua.
"Thanh Thủy nương t.ử, trà hôm nay thơm quá! Cho ta một chén để sưởi ấm cái bụng nào!" Một vị lão bá chèo thuyền chở sen đi ngang qua, đứng bên hàng rào tre hồ hởi cất tiếng gọi.
"Lão bá đợi thiếp thân một khắc." Giang Sở Bạch khẽ mỉm cười, đôi tay thanh mảnh thon dài bưng chén trà nóng hổi bước ra, thong thả đưa cho ông lão.
Nụ cười của nàng lúc này không còn là nụ cười mực thước, giả tạo của vị Giang Tiệp dư ngồi trên đỉnh cao sủng ái ngày trước. Đó là một nụ cười thật sự xuất phát từ nội tâm, dịu dàng, tự tại và phi thường trong sáng. Nàng cùng người dân trong trấn trò chuyện đôi ba câu về thời tiết, về mùa sen nở năm nay, giọng nói trong trẻo như tiếng suối chảy giữa khe núi, khiến ai nghe thấy cũng cảm thấy lòng mình nhẹ nhõm, bình yên.
Thời gian trôi qua từng ngày, cuộc sống bình dị, mộc mạc nơi miền sông nước đã từng chút một xoa dịu, chữa lành cho linh hồn đầy thương tích của Giang Sở Bạch.
Tại Thanh Thủy Đường này, vĩnh viễn không còn độc d.ư.ợ.c mạn đà la mật chế giấu trong những chén trà ban thưởng, không còn những âm mưu hạ độc hại người của chúng phi tần hậu cung. Nàng không còn phải thức trắng thâu đêm suốt sáng bên ánh nến cạn bấc để phê duyệt những chồng sổ sách lục cung chất cao như núi, không còn phải căng óc tính toán mưu mô đáp trả mưu mô để bảo vệ mạng sống cho bản thân. Ở nơi này, nàng không phải dẫm lên xác người, không phải chứng kiến m.á.u chảy đầu rơi của những cuộc thanh trừng triều đường tàn nhẫn nữa.
Mỗi buổi chiều muộn, khi nắng vàng hanh hao nhuộm hồng cả một vùng sông nước Giang Nam, Sở Bạch lại cầm chiếc gáo dừa nhỏ, thong thả đi quanh khoảng sân trước quán trà để tự tay tưới nước, chăm sóc cho những khóm hoa nhài, hoa đậu biếc đang vươn mình đón nắng. Đôi bàn tay nàng, vốn dĩ từng cầm thanh đoản đao cấm vệ quân, từng viết nên những nét chữ đẩy cả một đại tộc vào đường c.h.ế.t, giờ đây dịu dàng vuốt ve từng chiếc lá xanh, từng cánh hoa mềm mại đầy trân trọng.
Sự mài mòn, u uất thâm sâu trong xương tủy của những tháng ngày cung cấm đang dần dần được gột rửa triệt để. Đôi mắt trong vắt nhìn thấu hồng trần của nàng đã tìm lại được sự thấu suốt, vẹn nguyên ban sơ. Sắc trắng ngần của cái tên "Sơ Bạch" ngày nào không còn bị che phủ bởi những vết nứt đau đớn, dằn vặt nội tâm nữa, nó đã hoàn toàn sống lại dưới ánh mặt trời tự do, lấp lánh như dòng nước suối quê cũ, thanh cao và hoàn toàn độc lập. Nàng không còn là một vị hoàng hậu mẫu nghi thiên hạ oai phong lẫm liệt trong chiếc l.ồ.ng vàng đẫm m.á.u, nàng cuối cùng đã trở thành Thanh Thủy — một vũng nước sâu và trong vắt vẹn nguyên giữa nhân gian.
Thế nhưng, dù đã tìm lại được sự bình yên tuyệt đối cho linh hồn, từ sâu trong sâu thẳm tâm tư của Giang Sở Bạch, nàng vẫn vĩnh viễn giữ lại một góc nhỏ kín đáo, tôn quý nhất dành riêng cho một bóng hình.
Đó là Tạ Mộ Triều.
Những đêm trăng rằm sáng vằng vặc treo lơ lửng giữa tầng không, khi quán trà đã vắng bóng người, Sở Bạch lại lấy cây sáo trúc đơn sơ trong hòm gỗ ra, một mình ngồi bên phiến đá ven sông dưới giàn hoa đậu biếc. Nàng khẽ nâng sáo lên ngang môi, thổi ra một khúc nhạc thanh thoát, tự do nhưng ẩn chứa một nỗi niềm hoài niệm m.ô.n.g lung, bâng khuâng khôn tả.
Tiếng sáo bay bổng giữa màn đêm tịch mịch miền sông nước, nương theo những luồng gió mát xuôi dòng về phương Bắc xa xôi. Nàng thổi khúc nhạc này không phải để oán than số phận lận đận, mà là thổi cho người đàn ông đang ngồi trên ngai vàng cô độc của kinh thành nghe. Nàng nhớ tới vòng tay ôm c.h.ặ.t đứt ruột gan của chàng dưới mật đạo ngầm đêm ly biệt, nhớ tới lời thề mang tầm vóc giang sơn của chàng: “Hoàng thành đục ngầu trẫm ở lại dọn bùn, trả nàng về với trời cao đất rộng.” Nàng biết, chàng đã giữ đúng lời thề. Những tin tức phong phanh từ kinh thành truyền xuống phương Nam cho biết bạo quân Tạ Mộ Triều vĩnh viễn để trống Khôn Ninh Cung, cả đời không lập thêm phi tần, hậu cung mười hai điện lạnh ngắt như tờ. Chàng chấp nhận nhốt mình trong chiếc l.ồ.ng vương quyền đẫm m.á.u, gánh vác cả thiên hạ độc bước, chỉ để đổi lấy sự trong sạch, bình yên này cho nàng. Nỗi rung động, lòng trân trọng khắc cốt ghi tâm dành cho vị cố nhân ấy vĩnh viễn là một dải nước ấm áp chảy xuôi trong dòng m.á.u của nàng, không bao giờ phai nhạt.
Một buổi sáng đầu xuân, khi những bông hoa đậu biếc đầu tiên bung nở rực rỡ, tỏa sắc tím nhạt quấn quýt lấy hàng rào tre của quán trà, Giang Sở Bạch bước ra ngoài sân. Thời tiết miền Nam hôm nay phi thường nắng ấm, bầu trời cao xanh ngắt không một gợn mây đen. Nàng cầm chiếc biển hiệu bằng gỗ t.ử đàn nhỏ do chính tay mình mài giũa suốt mấy ngày qua bước ra trước cửa chính. Trên mặt biển gỗ khắc ba chữ lớn bằng những nét thư pháp gãy gọn, thanh thoát, trong trẻo: Thanh Thủy Đường.
Sở Bạch đứng thẳng người dưới ánh nắng chan hòa, hai tay nâng chiếc biển hiệu lên, cẩn thận treo cố định vào vị trí trang trọng nhất ngay dưới hiên mái tranh của quán trà. Những tia nắng xuân vàng rực, ấm áp dạt dào dội thẳng vào khuôn mặt thanh tú, trong suốt của nàng, rọi sáng đôi mắt trong vắt không một chút tạp niệm, phản chiếu ba chữ Thanh Thủy Đường lấp lánh như một lời khẳng định vĩnh viễn của số phận. Dòng nước trong ấy đã thực sự tìm lại được nguồn cội tự do tự tại của mình, vĩnh viễn sống lại dưới ánh mặt trời sạch sẽ giữa nhân gian.
