[hp] Sao Nỡ Làm Muggle Giữa Thế Giới Phép Thuật - Chương 307: Giao Kèo Ifrit
Cập nhật lúc: 05/01/2026 09:03
Warning: Chương này đề cập đến các yếu tố Quỷ học, có thể phản-Chúa.
Bản thân Aethelgard cũng có mối quan tâm vượt mức bình thường với chủ đề thần quỷ, mỗi lần “nó” thức giấc đều sẽ quăng ra cho Giselle xem một cuốn sách dày cộm về thần linh tín ngưỡng, đợi cô đọc xong thì kể lại cho “nó” nghe.
Một đứa trẻ 6 7 tuổi thì hiểu gì về tín ngưỡng thờ cúng chứ.
Nếu để Giselle chọn, cô nghĩ mình sẽ thiên về phái tin rằng có thần quỷ tồn tại như quan niệm của người Muggle. Những vị thần linh hoặc ma quỷ này hẳn nhiên ngụ cư ở cõi khác, chỉ có thể giao thoa với cõi này thông qua phù thủy, ma cà rồng và các nghi lễ triệu hồi mà họ thực hiện.
“Cháu cần tìm cách phá hôn lễ với ma cà rồng, ông có nghĩ ra cách gì không?”
Con ma vui vẻ lượn tới lượn lui. “Hủy hôn à? Cô dâu bỏ trốn? Công chúa chạy trốn khỏi hôn nhân sắp đặt, cùng chàng trai nghèo ẩn cư sống hạnh phúc...”
“Dừng! Dừng!” Giselle bó tay. “Cháu không chạy trốn. Cách này phải làm như là cháu đồng ý kết hôn nhưng phe Rosenvolt chẳng hiểu vì lý do gì phải hủy kèo. Phải là Rosenvolt tự-hủy chứ không phải cháu, ông hiểu không?”
“Đã rõ, quốc vương không muốn thực hiện lời hứa năm xưa, gả con gái đi xa nên tìm Amon yêu cầu ếm nguyền để nhà trai tự hủy hôn...”
Amon à Amon, mấy trăm năm ông đều tự biên tự diễn thế này sao.
“Vậy ông có cách nào không?”
Con ma bay vù vù thổi tắt ánh đèn trong phòng khách sạn Nocturne Palais. “Đương nhiên là có thưa cô. Như Amon nói đó, quốc vương Ba Tư khi xưa cũng từng yêu cầu Amon tế lễ như thế mà.”
À hóa ra là chuyện thật chứ không phải chuyện phịa.
“Nhưng cô biết đó, giao kèo với quỷ dữ phải trả cái giá rất đắt, rất đắt thưa cô.”
“Đừng dọa cháu Amon. Cháu biết thứ gì cũng phải trả giá. Nhưng nguyện vọng này của cháu chưa thể xếp vào hàng cao nhất trong giao kèo được. Sẽ có cái giá nhưng cháu có thể chịu đựng.”
Từ xưa người ta chấp nhận bán linh hồn cho quỷ dữ để cầu cạnh mạng sống, tiền tài bạc vàng hay chiến trận thành công. Có những vương tướng tìm đến thần ma để cầu cho cả thành diệt vong dưới vó ngựa của mình, thì việc cầu phá vỡ hôn nhân không như ý cũng chẳng lớn lao gì lắm.
Con ma không bay lượn nữa, phiêu phù trước mặt cô chủ nghiêm túc đáp:
“Lần gần nhất Amon thực hiện Giao kèo Ifrit, công chúa đã phải giao ra sinh mệnh đứa con đầu tiên của mình...”
“Cháu không thể sinh sản tự nhiên,” cô lạnh nhạt đáp.
Amon lắc đầu. “Không, cô không hiểu ý Amon rồi. Công chúa quốc vương là người thường nên Ifrit chỉ yêu cầu thế thôi. Còn cô chủ là phù thủy, lại là phù thủy quyền năng thì càng phải trả giá cao hơn.”
“Vậy tóm lại là gì? Amon ông đừng câu giờ nữa!”
“Ifrit yêu cầu gì chúng ta không thể đoán được đâu thưa cô...” Giselle muốn nhét con ma này vào ấm trà cho rồi. “...Nhưng Amon có thể gợi ý là một cuộc hôn nhân đổi một cuộc hôn nhân.”
Một cuộc hôn nhân đổi một cuộc hôn nhân?
“Cháu chưa hiểu lắm.”
“Cô có thể giao ra hôn nhân của mình.”
Giselle nuốt nước bọt: “Nghĩa là cháu không được phép kết hôn với ai khác nữa?”
“Đúng vậy thưa cô. Và cô đừng nghĩ giao kèo hôn nhân chỉ là một đám cưới rồi trao nhẫn mà thôi. Loài người ngày nay đã làm thui chột đi ý nghĩa của hôn nhân quá rồi. Với các phù thủy cổ xưa mà nói, họ thề nguyền dưới phép thuật, dùng phép thuật gắn kết mới là lễ cưới đúng nhất. Và như vậy, nghĩa là cô không thể thực hiện Nghi lễ Gắn kết bạn đời hay bất kỳ khế ước tương tự nào nữa.”
Cô gái im lặng. Lần im lặng suy nghĩ này kéo dài 2 ngày 1 đêm, cô cứ ngồi suy tư ở phòng khách sạn Nocturne Palais như vậy. Đến rạng sáng ngày thứ ba, Giselle rốt cuộc cũng hạ quyết tâm.
“Được rồi Amon, cháu quyết định rồi.”
Theo tín ngưỡng Hồi giáo và thần thoại Ả Rập cổ, Ifrit được mô tả là tầng lớp Jinn mạnh mẽ nhất, sinh ra từ ngọn lửa không khói, thứ lửa nguyên thủy mà Nhà Tiên Tri Cuối Cùng dùng để tạo nên loài Jinn trước cả thiên thần hay loài người.
Chúng thường hiện hình bằng một bóng dáng khổng lồ với hai cánh khói lửa, sừng đỏ rực, sống sâu trong lòng đất hoang vu hoặc những nơi bị nguyền rủa. Ifrit thông minh đến mức tàn nhẫn, có sức mạnh thao túng lửa, gió và ảo ảnh, nhưng cũng nổi tiếng xảo quyệt. Chúng sẵn lòng lập giao kèo với người phàm, song luôn tìm cách bẻ cong lời thề để trục lợi.
Để triệu hồi Ifrit, phải dùng vòng tròn Solomon ràng buộc, dâng mật ong ngọt ngào để thu hút và m.á.u để chứng minh ý chí.
Giao kèo với Ifrit luôn có giá và cái giá ấy thường là thứ mà kẻ triệu hồi không bao giờ muốn trả.
Giselle tốn vài ngày giả vờ lượn lờ thăm thú một vòng thành Rome nhưng thực tế là khảo sát tìm địa điểm thực hiện nghi lễ. Amon bảo tế lễ Ifrit thực hiện vào hoàng hôn đỏ lửa hoặc nửa đêm, nhưng hoàng hôn thì hiệu quả cao hơn.
Vậy thì càng phải cẩn thận. Qua mấy ngày cô cũng tìm được một chỗ thích hợp vắng vẻ tại Diễn Đàn La Mã (*), đúng hơn là quanh Cổng Vòm Septimius Severus (**). Nơi này tuy du khách tham quan không ngớt nhưng cũng rộng lớn hoang vu, đủ thuận lợi để cô phù thủy tìm chỗ ẩn thân.
Đoạn này cô lại nhớ đến Ive, nhớ đến nghiên cứu về thần thoại Hy Lạp của tụi nó, cũng là tiền đề để Giselle biết đến sâu hơn với các nghi lễ tế thần và lực lượng huyền bí học siêu việt của thế giới.
Thật ra làm phù thủy bình thường với kiến thức học được ở Hogwarts là đủ. Dư nữa là đằng khác, nhiều người ra trường mấy chục năm vẫn chẳng đ.á.n.h được Giải Giới hay Expulso cho ra hồn, độn thổ không được phải dùng Floo và magicar, thì tìm hiểu thêm về các kiến thức huyền bí học xa xôi vượt ngoài tầm với để làm gì.
Hơn hết, cám dỗ của các nghi thức phi-chính-thống này quá lớn, rơi vào tay những người tài năng thì ít mà tham vọng thì nhiều chỉ càng thêm nguy hại mà thôi.
Nên dần dần người ta mới phải xây dựng Tiêu chuẩn Thực hành Phép thuật hiện đại, loại bỏ và che giấu bớt những nhánh quá cao siêu.
Thế nên Giselle càng thấy phù thủy gốc Muggle thiệt thòi và không bằng phù thủy thuần chủng. Không bằng không phải vì khả năng phép thuật kém hơn, mà đơn giản vì không có cơ hội tiếp xúc với các nhánh phép thuật siêu nhiên bên ngoài kiến thức trường học. Như nhiều trò học 7 năm ở Hogwarts cũng không biết có câu lạc bộ đấu tay đôi tồn tại, nhiều phù thủy cũng sống cả đời mà không hay biết gì về các nghi lễ tế thần.
Âu thế cũng tốt, nếu không đủ khả năng thì biết quá nhiều là một nỗi bất hạnh. Thà biết ít sống yên vui vẫn tốt hơn.
Áng theo chỉ đạo của Amon, chiều hôm đó khi hoàng hôn nhuộm đỏ di tích La Mã cổ đại, Giselle độn thổ hiện lên vị trí đã che vết trước đó. Nơi này khuất mắt du khách Muggle, ráng chiều chiếu rọi gợi nhớ về một thời huy hoàng xưa cũ.
Đặt ấm trà lên một mặt đá lớn, Amon bay ra còn cô thì lấy ra các nguyên liệu đã chuẩn bị.
Trên mặt đất phai mòn vì thời gian, Giselle vẽ vòng tròn bảo vệ bằng cát đỏ từ sa mạc Rub' al Khali, thầm cảm ơn chính mình thuở xưa đã lưu ý mà cất giữ một vài vật kỷ niệm từ xứ sở Ả Rập xa xôi.
Cát là nguyên liệu thường thấy nhất trong hầu hết các nghi lễ tế thần nhưng nghi lễ cấp cao thì yêu cầu về cát cũng cao lên. Với Ifrit buộc phải là cát đỏ sa mạc trên xứ sở quê hương của vị Djinn này, nếu không nghi lễ hoàn toàn không thể thực hiện được.
Xong vòng tròn, cô lại vẽ tiếp ngôi sao 6 cánh hexagram. Chính giữa mô hình đó, Giselle đặt chiếc đèn dầu bằng đồng cũ kỹ khắc những Runes Solomon mà Amon đã hướng dẫn. Đèn dầu là cô gái mua ở chợ đồ cũ, không có yêu cầu gì nhiều, Runes khắc trên đó mới là thứ quan trọng. Và với người có đủ khả năng đạt N.E.W.T môn Cổ ngữ Runes thì chẳng thể sai sót ở khâu này được.
Ráng chiều nhuộm đỏ không gian di tích xưa cũ, soi bóng lên cô gái nhỏ bé bắt đầu thắp lửa đốt từ gỗ oliu khô, nhang trầm hương và myrrh vào trong đèn dầu.
Khói dày đặc cuồn cuộn bay lên, mang theo mùi ngọt cay nồng nặc, như thể chính không khí đang phì phò từng hơi thở không thuộc về trần thế. Cô cắt nhẹ lòng bàn tay trái, để m.á.u nhỏ giọt vào cái chén bạc chứa đầy mật ong.
Ngay thời khắc đất trời giao hòa, ngày đêm luân chuyển ấy, con ma Amon thu lại vẻ cợt nhả đùa vui thường ngày, vô cùng trang nghiêm mà niệm:
“Ya Ifrit al-nar al-qawi… ya ‘abd min nar samum… istajib li da‘wati!”
(Hỡi Ifrit lửa mạnh mẽ… hỡi kẻ sinh từ lửa không khói… hãy đáp lời kêu gọi của ta!)
Gió nổi lên tứ phía, như mang theo tiếng thở dài thì thầm của những thực thể cổ xưa, càng mang đến cho khu di tích đổ nát huy hoàng này cảm giác về những thời đại đã qua.
Khi con ma dừng lại, Giselle mới bắt đầu niệm bằng thứ tiếng Ả Rập trúc trắc mà mấy nay cô theo Amon học thuộc lòng:
“Ikshar al-‘aqd al-makruh bayna al-vampir wa ana… bi-khat’ihi huwa, la bi-khat’i!”
(Phá vỡ liên hôn đáng ghét giữa ma cà rồng và ta… bằng lỗi của hắn, không phải của ta!)
Quanh tai cô gái vang đến những tiếng ma quỷ thì thầm, một thứ chú ngữ tụng ngâm vừa ngọt ngào vừa rùng rợn.
Giselle có cảm giác như m.á.u trong người đang sục sôi nóng chảy ruột gan, đốt rát cổ họng và có một sự thôi thúc kỳ lạ bắt cô niệm theo tiếng thì thầm đó...
“Tỉnh táo! Cô chủ tỉnh lại!”
Tiếng hét của con ma phần nào át đi những tiếng thì thầm. Giselle run rẩy đổ hỗn hợp m.á.u và mật ong trong cái chén bạc vào đèn dầu bốc khói, tức thì khói xám hóa thành khói cuộn đỏ rực.
Từ trong màn khói mịt mù ấy, một bóng đen mang hình hài nhân loại nhưng có sừng đỏ và đôi cánh khói phe phẩy, đang dùng cặp mắt rực đỏ nhìn thẳng vào kẻ đã cả gan triệu hồi nó lên.
Tiếng la “tỉnh táo” của Amon như vọng từ xa xăm lắm...
Nhưng Giselle đã trải qua đủ nhiều để đủ sức giữ mình tỉnh táo. Cô quyết đoán quẳng cuộn giấy da ghi giao kèo mà Amon đã hướng dẫn cô viết vào ngọn lửa đang cháy bừng bừng.
Con ma cũng cùng lúc niệm:
“Qad a‘taytuk al-damm wa al-‘asl… faqbal al-‘ahd wa la tukhlif!”
(Ta đã dâng m.á.u và mật… hãy chấp nhận giao kèo và đừng phản bội!).
Từ cuối cùng được Amon trong vai trò tư tế bật ra, lửa đỏ đột ngột bùng lên sắc xanh lá rồi tắt phụt, mang theo bóng hình quỷ hai sừng biến mất.
Con ma còn niệm thêm nhiều câu cầu nguyện và bùa chú bảo vệ hậu nghi lễ khác nữa, còn Giselle chỉ cảm thấy linh hồn mình vừa nảy lên như bị thứ gì đó chạm vào.
Và cô biết, đó là dấu hiệu của giao kèo đã hình thành.
Cô không bao giờ còn có thể kết hôn được nữa...
Nghĩ lại cũng thật tréo ngoe, kiếp trước Giselle sống cuộc đời cô độc không chồng không con. Sang đến kiếp này dù có là nhân vật chính đi chăng nữa thì sau rốt cũng chẳng thể cưới chồng sinh con.
-----
(*) Roman Forum: Diễn Đàn La Mã ở Rome
(**) Arch of Septimius Severus: Cổng Vòm Septimius Severus
