Hứa Cho Ta Một Sân Xuân - 3
Cập nhật lúc: 04/09/2026 17:01
Bà ghét nhất người khác nói “xấp xỉ”.
“Một lượng bạc thiếu một văn cũng là thiếu.”
“Hôm nay thiếu một văn, ngày mai sẽ có kẻ dám thiếu một lượng.”
Ta hỏi.
“Nếu có người cố ý ghi sai sổ thì sao?”
Bà đẩy quyển sổ dày sang cho ta.
“Vậy thì tìm ra.”
Đó là chi tiêu tháng đầu tiên của viện Tê Vân.
Trên giấy dày đặc chữ, ta chỉ nhận được một nửa.
Bà bảo ta đếm than trước, rồi đếm nến, đem vật thật đối chiếu với sổ sách.
Ta lật qua lật lại giỏ than cân mấy lần.
Trong sổ ghi đã lĩnh sáu mươi cân, trong viện lại chỉ còn hơn bốn mươi cân, cộng thêm số đã đốt mấy ngày nay cũng không khớp.
Bà t.ử quản sự nói ta nhớ nhầm.
Ta không tranh với bà ta, vác số than còn lại đến chính viện, từng khối một cân trước mặt Nguyễn Thanh Ngô.
“Bốn mươi mốt cân hai lạng.”
“Cộng cả số đã đốt mấy ngày nay, nhiều nhất cũng chỉ bốn mươi lăm cân.”
“Mười lăm cân thiếu đi, hoặc là mọc chân chạy mất, hoặc là bị người nuốt mất.”
Mặt bà t.ử quản sự trắng bệch.
Nguyễn Thanh Ngô hỏi ta muốn xử trí thế nào.
“Trước hết tra nhà bà ta.”
“Nếu than ở đó thì phạt theo gia quy.”
“Nếu không có, lại tra người lĩnh than.”
“Không thể chỉ dựa vào một câu của con mà định tội.”
Bà t.ử kia vốn định nói ta trả thù riêng, vừa há miệng lại đành ngậm lại.
Cuối cùng, người ta tìm được mười hai cân than Ngân Sương trong phòng cháu trai bà ta.
Bà ta bị đ.á.n.h hai mươi trượng, đuổi ra trang t.ử.
Nguyễn Thanh Ngô đặt ba tiền bạc thu hồi được vào tay ta.
“Đây là phần lệ của ngươi, tự giữ cho kỹ.”
Ta nắm mấy miếng bạc vụn, trong lòng bỗng sáng lên.
Biết chữ thì có thể nhìn rõ kẻ khác đã ghi thứ gì lên đầu mình.
Hiểu sổ sách rồi, người muốn cầm b.út thao túng ta cũng phải cân nhắc trước.
Sau khi sang xuân, Nguyễn Thanh Ngô cho ta cùng các cô nương trong phủ đến gia học.
Viên tiên sinh dạy học hơn bốn mươi tuổi, chân phải có thương cũ nên đi hơi khập khiễng, nhưng giảng kinh nghĩa lại đầy trung khí.
Ông không khinh ta vì là con gái ngoại thất, cũng không đặc biệt chiếu cố.
Ta rất thích điểm này.
Nhị phòng Chúc Minh Lang lại không thích ta.
Nàng từ nhỏ được cưng chiều, tính tình kiêu ngạo.
Lần đầu gặp ta đã nhìn chằm chằm đôi giày của ta.
“Nghe nói mẫu thân ngươi ở ngoài thêu khăn cho người khác?”
“Ngươi cũng biết thêu sao?”
“Biết vá áo, không biết thêu hoa.”
Nàng che miệng cười.
“Vậy ngươi biết làm gì?”
“Biết tính cây trâm bướm vàng trên đầu ngươi đáng giá bao nhiêu.”
“Ngươi từng thấy vàng à?”
“Chưa từng thấy cả thỏi, nhưng đã thấy phiếu cầm đồ.”
“Một lượng vàng ròng khoảng mười lượng bạc.”
“Cây trâm này của ngươi nặng chưa tới hai lượng, tiền công tính ba phần, nhiều nhất hai mươi ba lượng.”
“Nếu có người nói nó đáng giá năm mươi lượng, người đó lừa ngươi.”
Mặt Chúc Minh Lang đỏ lên.
“Cây này mẫu thân ta mua năm mươi lượng!”
Ta gật đầu.
“Vậy mẫu thân ngươi bị lừa rồi.”
Cả phòng bật cười.
Chúc Minh Lang tức đến sắp khóc.
Viên tiên sinh dùng thước gõ lên bàn.
“Học đường không phải nơi đấu khẩu.”
“Đã nói đến toán thuật, hôm nay kiểm tra phép doanh bất túc.”
Ta là người đầu tiên tính ra đáp án.
Chúc Minh Lang không phục.
Tan học nàng đuổi theo ta ra hành lang, nhất định đòi so thêm một trận.
Nàng ra câu thơ, ta ra bài toán, hai người so đến tận trời tối.
Nàng thuộc thơ hơn ta, ta gảy thẻ tính nhanh hơn nàng, chẳng ai chiếm được lợi.
Cuối cùng bụng nàng đói đến réo lên, tức tối hỏi ta.
“Ngươi có định cười không?”
“Ta cũng đói.”
Ta lấy chiếc bánh táo đỏ Tứ Hỉ nhét vào tay áo cho ta, bẻ một nửa đưa nàng.
Nàng nhận bánh, c.ắ.n một miếng, miệng nhai lúng b.úng.
“Cây trâm kia rốt cuộc đáng bao nhiêu?”
“Ngày khác mang cân tới, ta tính cho ngươi chính xác hơn.”
Lần sau lên lớp, nàng thật sự giấu cây trâm trong túi sách mang đến.
Chúng ta cân trọng lượng, lại tra bảng giá của kim lâu, tính ra hai mươi bốn lượng sáu tiền.
Nguyễn Thanh Ngô biết chuyện, sai người cầm phiếu cũ đến hỏi.
Chưởng quầy kim lâu không dám giấu giếm, thừa nhận năm xưa bà t.ử phụ trách mua sắm của nhị phòng đã khai khống hai mươi lượng.
Nhị thẩm thu lại bạc, tự mình đưa tới hai hộp điểm tâm.
Từ đó Chúc Minh Lang không còn gọi ta là con gái ngoại thất, chỉ gọi ta là “sọt sổ sách”.
Ta cũng gọi nàng là “túi thơ”.
Cuộc sống của ta trong phủ dần có hình có dạng.
Buổi sáng đọc sách, buổi chiều theo Nguyễn Thanh Ngô xem sổ.
Cứ các ngày mồng năm, mồng mười, mười lăm, hai mươi, hai mươi lăm và ba mươi, bà lại dạy ta xem khế thư.
“Khế thư quan trọng nhất là người, vật, giá và kỳ hạn.”
“Thiếu một thứ, về sau đều có thể sinh tranh chấp.”
“Nơi nào bị sửa, phải bảo hai bên cùng đóng dấu ngay chỗ sửa.”
“Khoảng trống cũng phải gạch đi, tránh người khác thêm chữ.”
Bà lấy khế bỏ đi cho ta tìm lỗi.
Mỗi lần ta tìm ra một chỗ, bà cho ta một đồng tiền.
Tích đủ ba mươi đồng, ta ra phố mua một chiếc hũ sứ men xanh.
Nguyễn Thanh Ngô thường đau đầu.
Mỗi lúc đau bà không lên tiếng, chỉ lấy ngón tay ấn giữa mày, tiếp tục nghe quản sự bẩm việc.
Đại phu nói ban đêm bà ngủ nông, trong phòng không nên đặt hương quá nồng.
Khi mẫu thân ta còn sống, bà cũng hay mất ngủ.
Bà từng dạy ta phơi khô hoa hợp hoan, trộn với vỏ quýt, đặt cạnh gối, mùi rất nhẹ.
Ta đặt chiếc hũ nhỏ lên án của Nguyễn Thanh Ngô.
“Không phải thứ quý giá.”
“Nếu người ngửi thấy khó chịu thì cứ bỏ đi.”
Bà mở nắp, cúi đầu ngửi.
“Ngươi làm à?”
“Tứ Hỉ giúp con phơi.”
“Sao không may túi thơm?”
“Kim chỉ trong phòng người đều là đồ tốt.”
“Con làm xiêu vẹo, treo ra ngoài mất mặt.”
“Đậy nắp hũ lại thì không ai nhìn thấy.”
Bà bật cười.
Nụ cười để lộ hàm răng, khóe mày cũng cong xuống.
Lớp vỏ đoan trang thường ngày như bị mùi hoa hợp hoan cạy ra một khe, lúc ấy ta mới thấy, bên trong lớp vỏ ấy cũng chỉ là một người nhận được quà thì sẽ vui.
Tối hôm đó, bà sai người đưa cho ta một chiếc hà bao.
Mũi kim không mấy ngay ngắn, thêu một chiếc lá chẳng biết là lá gì.
