Lá Gia Thư - 2
Cập nhật lúc: 30/08/2026 11:03
Hắn phủi vụn bánh trên tay.
“Có một chuyện… trước đây ta cứ tưởng cô biết rồi.”
Không hiểu vì sao, ta chợt chẳng muốn nghe tiếp nữa, nhưng vẫn hỏi:
“Chuyện gì?”
Hắn gãi đầu.
“Trà tám năm nay nhà cô nhận được không phải thu từ Tê Hà Ổ.”
Nhất thời ta không hiểu.
“Ý ngươi là gì?”
Người dẫn đầu thương đội vội xua tay.
“Cô đừng vội.”
“Trà là trà ngon thật, chúng ta chưa từng lấy trà cũ lừa nhà cô.”
“Ta không hỏi chuyện đó.”
Ta đưa hộp trà trong n.g.ự.c ra trước mặt hắn.
“Rốt cuộc trà này từ đâu tới?”
Hắn nhìn một cái rồi thở dài.
Sau đó hắn đưa tay nhón một ít lá trà, đặt lên lòng bàn tay vò nhẹ.
“Đây là trà của Bạch Thạch Lĩnh.”
Bạch Thạch Lĩnh nằm cách bến đò cũ hơn bốn mươi dặm về phía đông.
Trên đường xuôi Nam ta còn từng đi ngang qua, khắp núi đều là vườn trà.
Người dẫn đầu thương đội nói với ta rằng trước khi Tê Hà Ổ bị ngập, trà ở đó thật ra không được xem là hạng thượng phẩm.
Chỉ được cái gần sông, sương dày, b.úp trà mọc non, pha ra hơi đắng, nuốt xuống rất lâu sau mới có vị ngọt quay lại.
Bạch Thạch Lĩnh thì khác.
Đất ở đó lẫn nhiều cát đá, vị trà thanh, vừa vào miệng đã có vị ngọt.
Người làm nghề buôn trà mấy chục năm chỉ cần uống một ngụm là phân biệt được.
“Những hộp trà nhà cô nhận được mấy năm nay đều là trà Vũ Tiền của Bạch Thạch Lĩnh.”
Nói đến đây, hắn lại hơi lấy làm lạ.
“Ta vẫn cứ tưởng cô biết.”
“Ta biết cái gì?”
“Vốn dĩ đây là trà người ta nhờ chúng ta mang hộ.”
Thì ra mỗi năm trước khi thương đội này đi về phương Bắc, đều sẽ đi ngang trấn Bạch Thạch.
Trong trấn có một tiệm trà cũ, tiệm sẽ chuẩn bị sẵn một hộp trà mới, cùng một phong gia thư đã niêm kín rồi giao cho họ.
Bên ngoài ghi địa chỉ nhà ta, tiền công đường đã có người trả trước, họ chỉ việc mang lên phương Bắc.
Nghe đến đó, tay chân ta lạnh ngắt.
“Ai giao những thứ này cho tiệm trà?”
Người dẫn đầu thương đội lắc đầu.
“Chuyện này ta không biết.”
“Một năm chúng ta qua tay mấy trăm, mấy nghìn cân trà, tiện đường mang hộ một phong thư hay chút đồ vốn là chuyện thường.”
“Lần đầu ta đưa trà đến nhà cô, chưởng quầy tiệm trà đã nói đây là lời dặn của một khách quen cũ.”
“Tám năm, năm nào cũng vậy?”
“Năm nào cũng vậy.”
Ta cúi đầu nhìn hộp trà trong tay, ở góc hộp còn dính một ít vụn trà.
Sợ hương trà bay mất, mỗi lần nhận được A Nương đều không nỡ mở nhiều, thường chỉ lấy một nhúm nhỏ pha lên, cả nhà mỗi người chia nửa chén, số còn lại cẩn thận niêm kín.
Bà luôn nói:
“Đây là mùa xuân bên chỗ tiểu muội con.”
Tám năm.
Thứ A Nương không nỡ uống hết vốn dĩ chẳng phải trà của Tê Hà Ổ.
Ta bỗng thấy hô hấp khó khăn.
“Đi trấn Bạch Thạch.”
Ta gấp thư lại, nhét vào vạt áo.
“Đi ngay bây giờ.”
Người dẫn đầu thương đội nhìn trời, mặt trời đã ngả dần về tây.
“Hơn bốn mươi dặm đấy, chạy đến nơi thì cổng trấn cũng đóng rồi.”
“Hay là sáng mai—”
“A Nương ta vẫn đang ở nhà chờ.”
Ta ngắt lời hắn.
Vừa cất giọng, chính ta cũng giật mình, khàn đặc đến đáng sợ.
“Bà ấy không chờ nổi.”
Không ai khuyên thêm.
Thương đội tháo cho ta một con ngựa chạy nhanh nhất.
Ta không biết cưỡi ngựa, chỉ có thể ôm c.h.ặ.t cổ ngựa, để người dẫn đầu thương đội dắt cương chạy về phía trước.
Xóc chưa được mười dặm, chút lương khô trong bụng ta đã nôn sạch.
Nôn xong lại tiếp tục đi.
Trước kia ta sợ nhất là ngồi xe chạy nhanh.
Hồi nhỏ đi hội chùa cùng tiểu muội, xe bò chỉ cần đi nhanh một chút là ta đã ôm nàng kêu la, nói ruột gan sắp bị xóc đứt.
Tiểu muội sẽ cười ta vô dụng.
Gan nàng lớn hơn ta nhiều.
Dám trèo cây, dám xuống sông, năm mười hai tuổi còn lén cưỡi con la nhà hàng xóm, ngã đến nửa bên mặt dính đầy bùn, về nhà bị A Nương đuổi đ.á.n.h ba con phố.
Nghĩ đến đó, sống mũi ta cay xè, vội cúi đầu xuống.
Ta không thể nghĩ lung tung, tiểu muội chỉ là dọn nhà, trà cũng chỉ là nhờ người khác mua giúp.
Tê Hà Ổ không còn không có nghĩa là người cũng không còn.
Trên đời còn có người giàu thích đặt tên cho nhà mình là “Sơn Cư”, “Thủy Tạ”, rõ ràng trước cửa đến một vũng nước cũng chẳng có.
Biết đâu nhà chồng tiểu muội cũng có tật ấy.
Suốt đường đi ta tự nghĩ ra bảy tám cái cớ cho họ.
Đến khi chạy tới trấn Bạch Thạch, chân ta đã tê đến không còn giống chân mình.
Tiệm trà đang chuẩn bị đóng ván cửa, người dẫn đầu thương đội đứng cách nửa con phố đã gọi lớn:
“Chưởng quầy! Khoan đóng cửa!”
Sau quầy ló ra một cái đầu bạc.
Lão nhân nhận ra hắn, cười mắng:
“Hối như đòi mạng làm gì?”
“Hàng năm nay chẳng phải đã đưa cho ngươi từ sớm rồi sao?”
Bước chân ta lập tức khựng lại.
“Hàng năm nay” chính là hộp trà đang nằm trong n.g.ự.c ta.
Ta vịn khung cửa đi vào.
“Lão nhân gia, ta muốn hỏi trà này là ai nhờ ông gửi?”
Chưởng quầy tiệm trà hơi nghễnh tai, ta hỏi liền hai lần ông mới nghe rõ.
Sau đó ông nheo mắt nhìn ta, rồi nhìn hộp trà trong tay ta.
“Từ phương Bắc tới?”
Ta gật đầu.
Ông cũng không thoái thác, chỉ bảo ta chờ rồi quay người vào buồng trong.
Tiệm trà rất nhỏ, sát tường đặt mấy chiếc nia tre, trong góc kê một chiếc chảo sắt lớn dùng để sao trà, đáy chảo vẫn còn hơi ấm, trong phòng tràn ngập hương trà mới hong qua lửa.
Ta đứng bên trong mà lòng càng thêm hoảng.
Không lâu sau, chưởng quầy ôm một quyển sổ ra.
Sổ rất dày, bốn góc đều đã sờn lông.
Ông đeo kính lão, chấm đầu ngón tay vào nước bọt rồi lật mấy trang, cuối cùng dừng lại ở một trang.
“Đây.”
Ta vội ghé sát.
Trang giấy ấy đã ố vàng, dòng trên cùng ghi từ tám năm trước, chữ không nhiều.
“Một hộp trà Vũ Tiền, gửi về phương Bắc…”
Bên dưới là địa chỉ nhà ta.
Không sai một chữ.
Sau đó, cứ cách một năm lại có một mục giống hệt.
Trà đều là một hộp, đóng trước tiết Cốc Vũ, địa chỉ cũng cùng một nơi.
