Lá Gia Thư - 3
Cập nhật lúc: 30/08/2026 11:03
Ta nhìn theo những dòng năm tháng xuống dưới.
“Ai tới đặt?”
Chưởng quầy cau mày nghĩ một lúc.
“Một nam nhân trẻ tuổi.”
“Trông thế nào?”
“Tám năm rồi, sao ta còn nhớ được.”
Ta sốt ruột đến lòng bàn tay toát mồ hôi.
“Vậy năm nào hắn cũng tới?”
Chưởng quầy ngẩng lên nhìn ta.
“Năm nào?”
Vẻ mặt ông hơi kỳ quái.
“Ai nói với cô là năm nào hắn cũng đến?”
Ta sững người.
Chưởng quầy lật ngược sổ về một trang, ngón tay chỉ vào bên cạnh dòng chữ tám năm trước.
Ở đó còn có một dòng chữ nhỏ, lúc nãy lòng ta quá rối nên không hề nhìn thấy.
“Tiền trà mười năm, thanh toán một lần.”
Ta nhìn chằm chằm mấy chữ ấy, chỉ cảm thấy sống lưng lạnh dần.
“Mười năm?”
“Đúng.”
Chưởng quầy nói.
Mùa xuân tám năm trước, có một nam nhân trẻ tuổi tới tiệm, một lần trả hết tiền trà và tiền công vận chuyển của mười năm.
Yêu cầu của hắn cũng chẳng phiền phức.
Mỗi năm vào tiết Cốc Vũ, chọn loại trà Vũ Tiền ngon nhất trong tiệm, đóng một hộp.
Sau đó lấy một phong trong số những lá thư hắn để lại, cùng giao cho thương đội đi về phương Bắc.
Chưởng quầy làm ăn mấy chục năm, lần đầu gặp kiểu mua bán như vậy nên vẫn nhớ khá rõ.
“Lúc đó ta còn cười hắn.”
Lão nhân vừa nói vừa cúi xuống mò dưới quầy.
“Ta bảo mười năm dài lắm, ai biết bộ xương già này của ta còn sống được đến lúc ấy hay không.”
“Hắn nói không sao, nếu ta c.h.ế.t thì để con trai ta tiếp tục gửi.”
Môi ta bắt đầu run lên.
“Thư đâu?”
Chưởng quầy không nghe rõ.
“Cái gì?”
“Những lá thư người đó để lại đâu?”
Lần này giọng ta lớn đến mức chính ta cũng thấy ch.ói tai.
Chưởng quầy bị ta dọa giật mình.
“Đã gửi tám phong rồi, còn lại hai phong.”
Ông cúi người, từ sâu dưới quầy kéo ra một chiếc hộp gỗ phủ bụi.
Ổ khóa đã rỉ sét, chưởng quầy cắm chìa mấy lần mới mở được.
Bên trong không có vàng bạc, chỉ có hai phong thư nằm yên chồng lên nhau.
Lão nhân cầm lên, thổi lớp bụi.
“Đây là của năm sau và năm sau nữa.”
Ta không dám nhận.
Phong bì đã cũ, mép hơi ngả vàng, hoàn toàn khác phong bì trắng như tuyết của lá thư năm nay trong n.g.ự.c ta.
Nhưng chữ trên đó, ta nhận ra.
Là chữ của tiểu muội.
Phong thứ nhất viết:
“Năm thứ chín.”
Phong thứ hai viết:
“Năm thứ mười.”
Ta đứng tại chỗ, rất lâu không nhúc nhích.
Tám năm nay, tiểu muội nói với chúng ta rằng nàng gả rất tốt, trượng phu kính trọng nàng, sau đó có con, con cái dần lớn lên.
Nàng sống trong một sân viện kề nước, ngoài cửa sổ năm nào trà hoa cũng nở.
A Nương cũng tin suốt tám năm.
Nhưng bây giờ, ngay cả tiểu muội năm sau, năm sau nữa sẽ sống thế nào cũng đã nằm sẵn trong chiếc hộp gỗ bị khóa từ tám năm trước.
Cuối cùng ta đưa tay, cầm lên phong gia thư viết “Năm thứ chín”.
Ta xé phong thư thứ chín.
Chưởng quầy bên cạnh khẽ “ôi” một tiếng, có lẽ cảm thấy mở thư nhà của người ta trước thời hạn là điềm chẳng lành, nhưng rốt cuộc vẫn không ngăn.
Thư không dài.
Tiểu muội nói Đại Lang đã tám tuổi, được đưa vào học đường rồi, nhưng nửa khắc cũng không ngồi yên.
Tiên sinh đọc sách phía trước, nó lại bò lên bệ cửa sổ ngắm chim, vừa ngắm là hết nửa ngày.
Tiểu nữ sáu tuổi, vừa rụng hai chiếc răng cửa, nói chuyện còn hở gió mà nhất quyết đòi theo ca ca học thuộc sách.
Ta đọc hai lần.
Rồi lại xé phong thứ mười.
Phong này còn ngắn hơn.
Nàng nói các con đều đã lớn, phu quân những năm qua vẫn luôn đối xử với nàng rất tốt.
Đợi sang xuân năm sau, nàng sẽ lên đường trở về phương Bắc.
“Rời nhà mười năm, cũng nên trở về dập đầu với A Nương rồi.”
Ta siết tờ giấy trong tay, hồi lâu không nói.
Chưởng quầy nhìn ra có điều bất thường.
“Cô nương, thư này…”
“Nàng không có con.”
Ít nhất vào tám năm trước, lúc viết những lời này, nàng không có.
Khi đó nàng mới vừa xuất giá, lấy đâu ra Đại Lang tám tuổi, tiểu nữ sáu tuổi?
Chưởng quầy cũng ngẩn người.
Ông lật chiếc hộp gỗ, như chợt nhớ ra chuyện gì.
“Lúc ấy người kia để lại mười tờ thư bên trong.”
“Phong bì bên ngoài là mỗi năm ta thay mới.”
“Vị khách kia nói đường xa, phong bì để lâu dễ hỏng.”
“Mỗi năm vào tiết Cốc Vũ, chỉ cần lấy một phong ra, l.ồ.ng vào phong bì mới rồi gửi cùng trà mới của năm ấy.”
Thảo nào phong bì năm nay trắng như tuyết.
Thứ thật sự được để lại từ tám năm trước là tờ giấy bên trong đã hơi ố vàng.
Ta lại hỏi:
“Vì sao vừa đúng mười phong?”
Chưởng quầy lắc đầu.
“Không nói.”
“Chỉ dặn gửi xong phong thứ mười thì việc này coi như kết thúc.”
Mười phong.
Trong phong cuối cùng, tiểu muội vừa khéo viết rằng nàng sẽ về nhà.
Ta nhìn câu ấy thêm một lần.
Nhất thời không biết rốt cuộc đây là trùng hợp, hay nàng cố ý để lại cho chúng ta thứ gì đó.
Ta chỉ biết vẫn còn hai năm.
Nếu A Nương không đổ bệnh, nếu ta không đột nhiên xuôi Nam, hai năm sau chúng ta sẽ chờ nàng về nhà.
Nhưng nếu khi ấy nàng vẫn không trở về thì sao?
Đến lúc đó ta ắt sẽ đi tìm.
Nghĩ đến đây, ta ngẩng đầu hỏi chưởng quầy:
“Nam nhân tám năm trước tới trả tiền, ông thật sự không nhớ chút gì sao?”
Chưởng quầy cau mày suy nghĩ, ngón tay gõ lên mặt quầy mấy cái.
Gõ đến cái thứ ba, ông ngẩng đầu.
“Hắn không tới một mình!”
“Hôm đó ngoài tiệm còn đỗ một xe chở trà.”
“Mái xe phủ vải xanh, góc xe treo một tấm thẻ gỗ, trên đó đóng một chữ ‘Bạch’.”
“Xa phu đi cùng vào xin nước uống, gọi nam nhân trẻ tuổi kia là ‘Nhị gia’.”
Người dẫn đầu thương đội vẫn im lặng đứng bên cạnh.
Nghe đến đây, hắn chợt nhìn ta một cái.
“Trà trang Bạch Thạch.”
Hắn nói:
“Bạch Thạch Lĩnh có không ít người họ Bạch, nhưng xe chở trà dám chỉ treo một chữ ‘Bạch’ thì chỉ có nhà ấy.”
Ta cúi đầu nhìn dòng trong sổ:
