Nông Gia Tiểu Phúc Nữ - Chương 2010: Luận Phật
Cập nhật lúc: 07/03/2026 05:15
Vị hòa thượng này thực sự muốn luận bàn Phật pháp với bọn họ. Ông ta đi thẳng dẫn họ qua khu nhà khách, tiến thẳng vào gian phòng của mình ở phía sau. Ông mời cả ba ngồi xuống những chiếc ghế đá đặt dưới bóng một cây bồ đề xum xuê.
Bốn chiếc ghế đá, vừa vặn mỗi người một chỗ.
Chờ mọi người yên vị, vị hòa thượng mới khoan t.h.a.i giới thiệu: "Lão nạp pháp danh là Trí Thâm."
Cả ba kinh ngạc thốt lên: "Ngài là Trí Thâm đại sư ạ."
Ở Hộ Quốc Tự, nổi danh nhất chính là vị trụ trì Trí Nhẫn đại sư. Và nghe đồn sư đệ của ông, Trí Thâm đại sư, cũng là một vị cao tăng đắc đạo tiếng tăm lẫy lừng.
Ba người vội vàng đứng dậy hành lễ lần nữa. Trí Thâm đại sư không ngờ bọn họ lại giữ lễ nghĩa đến vậy, nụ cười trên môi càng thêm hiền từ. Ông chắp tay đáp lễ rồi mời họ ngồi xuống.
Một chú tiểu bưng khay trà thiền lên, cẩn thận rót cho mỗi người một chén rồi lặng lẽ lui ra.
Trí Thâm đại sư lần tràng hạt trên tay. Thấy ba người chỉ cúi đầu nhâm nhi trà, chẳng hề tỏ vẻ tò mò hay vội vã muốn biết lý do cuộc gặp gỡ, ông khẽ mỉm cười, chủ động mở lời: "Ba vị thí chủ từng đọc qua bộ kinh Phật nào chưa?"
Bạch Thiện ngẫm nghĩ một lúc rồi thưa: "Bọn vãn bối ít đọc kinh Phật lắm, chỉ từng chép qua Vô Lượng Thọ Kinh, Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh và Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh thôi."
Trí Thâm đại sư vừa nghe đã hiểu ngay đây toàn là chép kinh cho nữ quyến trong nhà. Bởi lẽ ba bộ kinh này là những lựa chọn phổ biến nhất để cầu siêu, chúc thọ hay cầu an. Cứ mười bản kinh thì có đến bảy bản là ba bộ này.
Trí Thâm đại sư mỉm cười hỏi tiếp: "Bạch thí chủ sao không thử đọc Thủ Lăng Nghiêm Kinh? Đây là cuốn kinh khai mở trí tuệ, sự thâm thúy và tinh diệu của nó chỉ có Diệu Pháp Liên Hoa Kinh và Hoa Nghiêm Kinh mới sánh kịp. Ba vị thí chủ đều là những người kiến thức uyên bác, lại có căn cơ tuệ giác, nếu lãnh hội được ba bộ kinh này, ắt hẳn sẽ mang lại lợi ích to lớn cho công đức và đường đời sau này."
Cả ba đồng loạt thở dài sườn sượt, nét mặt lộ rõ vẻ rầu rĩ: "Đại sư à, thay vì bảo bọn vãn bối tự đi nghiền ngẫm, chi bằng ngài cứ trực tiếp giảng giải những tinh hoa và triết lý Phật pháp trong đó cho bọn vãn bối nghe thì hơn. Chứ bảo bọn vãn bối tự đọc, e là trong tương lai gần không kham nổi đâu."
Trí Thâm đại sư ngạc nhiên hỏi: "Tại sao vậy?"
"Bởi vì bọn vãn bối bận lắm!"
Mãn Bảo than thở: "Vãn bối còn phải biên soạn sách y, khám bệnh ở Thái y viện, lên lớp ở Thái y thự, chưa kể còn phải học với tiên sinh nhà vãn bối, đọc cơ man nào là sách. Bận tối mắt tối mũi thế này, lấy đâu ra thời gian mà tĩnh tâm lễ Phật."
Bạch Thiện gật gù phụ họa: "Đúng vậy ạ. Vả lại bọn vãn bối nghĩ, ở độ tuổi này mà dấn thân vào lễ Phật thì hơi sớm. Về phần tĩnh tâm, đọc những cuốn sách khác cũng hoàn toàn có thể làm được."
Trí Thâm đại sư mỉm cười hiền hậu: "Phật pháp thâm sâu vi diệu, đâu chỉ dừng lại ở việc tĩnh tâm. Lão nạp thấy ba vị thí chủ đều là những người ham học hỏi, chi bằng lão nạp tặng ba cuốn kinh Phật này cho các vị nhé?"
Chẳng để họ kịp từ chối, Trí Thâm đại sư đã sai người mang ra ba cuốn kinh thư. Điều khiến ba người kinh ngạc là những cuốn kinh này không chỉ nhuốm màu thời gian mà bên trong còn chi chít những dòng ghi chú nhỏ li ti.
Dù không phải là tín đồ Phật giáo, họ vẫn thừa hiểu giá trị của những cuốn kinh thư cổ này. Cả ba nhìn nhau, toan mở lời chối từ.
Nhưng Trí Thâm đại sư lại vô cùng kiên quyết. Nụ cười mỉm trên môi ông dần nhường chỗ cho vẻ nghiêm nghị, trang trọng: "Bần tăng chỉ muốn các vị thí chủ hiểu thêm về triết lý Phật giáo. Một khi đã hiểu, các vị sẽ nhận ra Đức Phật của chúng tôi có thể giải thoát con người khỏi bể khổ trần gian, chứ tuyệt nhiên không phải thứ tà giáo mê hoặc lòng người."
Ba người nghe vậy mới vỡ lẽ nguyên do thực sự của cuộc gặp gỡ này. Dù vậy, họ chẳng hề tỏ ra bối rối hay e dè. Mãn Bảo thậm chí còn thẳng thắn đặt câu hỏi: "Trí Thâm đại sư nay đã là cao tăng đắc đạo lẫy lừng, vậy xin hỏi ngài đã tự cởi trói được những nỗi thống khổ của chính mình chưa?"
Trí Thâm đại sư thoáng sửng sốt, rồi lắc đầu: "Phật pháp bao la huyền diệu, những gì bần tăng học được chỉ là giọt nước giữa đại dương, làm sao dám vỗ n.g.ự.c xưng tên đã thoát khỏi mọi khổ đau?"
Mãn Bảo gật đầu cái rụp: "Vãn bối cũng đoán vậy." Nếu đã thế, cớ sao ngài cứ một mực ép bọn vãn bối phải đọc kinh thư chứ? Chỉ riêng điểm này, ngài đã không bằng vị quan chủ của Huyền Đô Quan, thậm chí còn kém xa cả Thủ Thanh quan chủ nữa.
Trí Thâm đại sư bị câu nói của Mãn Bảo làm cho nghẹn họng. Thú thực, ông thành danh đã lâu, tiếp xúc đủ mọi hạng người từ kẻ bình dân áo vải đến bậc vương tôn quý tộc. Nhưng chưa từng có ai dám buông lời nói thẳng vào mặt ông: "Này hòa thượng, ta thấy Phật pháp của ông cũng bình thường thôi, đến cái khổ của bản thân còn chưa giải quyết xong kia kìa!"
Đúng vậy, lời của Chu Mãn tuy ngắn gọn, nhưng hàm ý bên trong sắc lẹm chính là như thế.
Bạch Thiện mỉm cười giải vây: "Đại sư, tiên sinh của bọn vãn bối từng dạy, đạo lý trên thế gian này là vô cùng vô tận, vũ trụ bao la, chẳng một ai có thể tường tận thấu hiểu được tất cả."
Một khi đã không thể tường tận, thì làm gì có cái gọi là "giải thoát khỏi bể khổ trần gian"? Cứ nhìn những cuốn sách mà "tiểu nhạc phụ" (ý chỉ hệ thống) mang từ âm phủ lên mà xem, đến giờ họ còn chưa thể đặt ra câu hỏi chính xác, nói gì đến chuyện giải đáp thắc mắc. Vậy thì trên đời này, đào đâu ra những bậc "cao tăng đắc đạo", "cao nhân đắc đạo" cơ chứ?
Đây không chỉ là triết lý của Trang tiên sinh, mà còn là niềm tin chung của cả ba người.
Tuy nhiên, quan điểm này dễ bề làm phật lòng nhiều người, đặc biệt là những tín đồ của Phật giáo và Đạo giáo. Do đó, bốn thầy trò chỉ dám đóng cửa bảo nhau trong nhà.
Nhưng chuyện đã đến nước này, họ cũng chẳng ngại bày tỏ quan điểm thẳng thắn của mình.
Bạch Thiện tiếp tục: "Tri thức trên thế gian này nhiều vô kể, cái đã biết, cái chưa biết. Trong khi đó, tuổi thọ, trí tuệ và sức lực của con người lại hữu hạn. Bởi vậy, con người nên biết chọn lọc, tập trung vào những điều cốt lõi. Tri thức của nhân loại là học mãi không cạn, nghiên cứu mãi không hết."
Trí Thâm đại sư hiểu ngay ẩn ý trong lời nói của hắn: "Ba vị thí chủ đã không màng, cũng chẳng hiểu gì về giáo lý nhà Phật, vậy cớ sao lại dễ dàng buông lời phán xét Phật giáo làm lỡ dở con người?"
Chẳng riêng gì Bạch Thiện và Mãn Bảo, ngay cả Bạch Nhị Lang cũng cảm nhận được sự bất mãn trong lời nói của ông. Hắn nhịn không được lên tiếng: "Bọn vãn bối đúng là chưa từng nghiền ngẫm kinh Phật, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc bọn vãn bối mù tịt về Phật giáo. Bọn vãn bối chỉ nói ra suy nghĩ của mình về Phật giáo, đâu có cưỡng ép người đời phải đồng tình."
Bạch Thiện khẽ liếc Bạch Nhị Lang, tỏ ý không tán thành. Chưa kịp can thiệp thì Trí Thâm đại sư đã cất giọng: "Chu đại nhân luận bàn về Phật giáo ngay giữa bá quan văn võ, xui khiến Bệ hạ coi nhẹ Phật pháp. Mà Bệ hạ lại là tấm gương sáng cho cả thiên hạ noi theo. Hành động đó nếu không phải là cưỡng ép thì gọi là gì?"
"Là Phật và Đạo!" Mãn Bảo đanh thép nhấn mạnh: "Điều vãn bối bàn luận không chỉ nhắm vào Phật giáo, mà là cả Phật giáo lẫn Đạo giáo!"
Trí Thâm hòa thượng: ...
"Trong lịch sử, những bậc đế vương sùng bái thái quá Phật Đạo đều tiềm ẩn những mối nguy khó lường. Nhẹ thì lầm đường lạc lối trị quốc, nặng thì dẫn đến t.h.ả.m cảnh vong quốc diệt môn. Vãn bối là mệnh quan triều đình, bổng lộc vua ban, dân nuôi nấng, dĩ nhiên phải ưu tiên suy tính cho Bệ hạ và bách tính. Dân chúng có quyền tự do tín ngưỡng, nhưng như Đại sư đã nói, Bệ hạ là hình mẫu của muôn dân. Đã là hình mẫu, sau lưng Phật Đạo còn có cả trăm nhà tư tưởng khác như Nho, Pháp, Binh, Mặc... Bệ hạ không nên ưu ái đặc biệt cho bất kỳ bên nào. Trong bách gia chư t.ử, học thuyết nào có lợi cho việc cai trị và mang lại ấm no cho dân chúng, thì ngài ấy mới nên đặt niềm tin."
Mãn Bảo nhìn thẳng vào mắt Trí Thâm đại sư, gằn từng chữ: "Và trong số đó, Phật giáo là học thuyết ít có khả năng mang lại lợi ích cho việc trị quốc an dân nhất."
Trí Thâm đại sư không ngờ nàng lại bẻ lái sang chuyện chính trị. Thấy nàng quả quyết như đinh đóng cột, ông mỉm cười hỏi lại: "Hà cớ gì tiểu thí chủ lại khẳng định như vậy? Phật pháp vô biên, nếu muôn dân đều hướng thiện tu hành theo Phật, thế gian này sẽ giảm bớt biết bao nhiêu lầm than, tai ương."
Bạch Thiện chậm rãi đặt câu hỏi: "Chẳng hay các chư tăng trong Hộ Quốc Tự đã hoàn toàn rũ bỏ được 'Oán tắng hội khổ' (khổ vì phải gặp người mình ghét), 'Ái biệt ly khổ' (khổ vì phải xa lìa người mình yêu), 'Ngũ ấm xí thạnh khổ' (khổ vì năm ấm lừng lẫy), và 'Cầu bất đắc khổ' (khổ vì mong cầu mà không được) chưa ạ?"
Trí Thâm đại sư thoáng khựng lại rồi đáp: "Vẫn còn. Ngay cả bần tăng đây cũng chưa thể hoàn toàn thoát khỏi Tứ khổ ấy."
"Ngay cả những nhà sư ngày đêm tụng kinh gõ mõ trong chùa còn chưa dứt bỏ được Tứ khổ, huống hồ gì là chúng sinh bá tánh." Bạch Thiện lập luận sắc bén: "Đã mang trong mình Tứ khổ, lại chẳng thể tránh khỏi quy luật sinh lão bệnh t.ử, thì những thói hư tật xấu như ganh ghét, tranh quyền đoạt lợi vẫn cứ nghiễm nhiên tồn tại. Những tai ương, tai họa trên thế gian này làm sao có thể tự động biến mất chỉ vì người ta hướng Phật?"
(Hẹn gặp lại ngày mai)
