Phù Chi - 7
Cập nhật lúc: 16/09/2026 06:02
“Ngô di, lần này con viết nhiều hơn lần trước mười chữ!”
“Con… con cũng vậy!”
Ta lấy những bức đường họa đã chuẩn bị sẵn, phát từng cái một: “Có hết, ai cũng có!”
Bọn trẻ ùa lên, tiếng cười lan khắp sân.
Giữa lúc mọi người đang cười nói, một giọng lạnh lùng bỗng lọt vào tai ta: “Con đứng nhất, vì sao con không có?”
Tiếng cười của bọn trẻ như bị ai nhấn dừng, lập tức im bặt.
Ta quay người, trên mặt vẫn mang nụ cười: “Chỉ riêng con là không có.”
Thê Trì liếc bức đường họa, lại nhìn bát canh ngọt ta bưng tới, khinh thường quay mặt đi: “Có gì hiếm lạ đâu? Ở kinh thành con từng ăn thứ ngon hơn nhiều. Trước khi tới đây, biểu cô còn nói sẽ nhờ người ở Nhuận Châu mua cho con một con ngựa nhỏ!”
Trong sân yên lặng một thoáng.
A Ngưu đang ngồi dưới chân tường, ăn nốt bức đường họa trong miệng rồi chậm rãi đứng lên, phủi vụn đường trên tay.
“Ô, ngựa nhỏ cơ à! Vậy chắc oai phong lắm nhỉ? Yên vàng, tua đỏ, chạy như bay ấy chứ. Thế sao huynh còn ở đây?”
A Ngưu nghiêng đầu, vẻ mặt hết sức nghiêm túc, tiếp tục hỏi: “Con ngựa của huynh đâu? Biểu cô của huynh đâu? Sao bà ấy không theo đến Nhuận Châu thăm huynh?”
Thiết Đản cũng chen vào: “Vậy sao bà ấy không mang ngựa tới đón huynh về? Ha ha ha!”
Mấy đứa trẻ dưới chân tường cũng cười ồ theo.
Trước kia nó cũng từng cười người khác như vậy.
Bây giờ tiếng cười hướng về phía nó, nghe một hồi, nó lại mong những tiếng ấy mau dừng lại.
Dựa vào đâu chứ?
Rõ ràng ta thể diện hơn các ngươi, quy củ hơn các ngươi, ưu tú hơn tất cả các ngươi —
Thê Trì không biết, thước đo của thế gian chưa từng nằm ở bề ngoài.
Y phục, lời ăn tiếng nói, điểm số, những thứ nó lấy làm kiêu ngạo lại chính là thứ ta xem nhẹ nhất.
Con của ta, ta chỉ mong nó bình an, mong nó vui vẻ, mong quãng đời còn lại không cần lấy sự ưu tú để chứng minh mình xứng đáng được yêu thương.
Độ lửa đã đủ.
Ta vỗ tay: “Được rồi, được rồi, không được cười nữa. Trời không còn sớm, ai về nhà nấy đi! Ngày mai lại tới, ta làm món ngon cho các con!”
Thê Trì bắt đầu mong có người tới đón.
Nhưng nó đã ở Nhuận Châu lâu như vậy, Lục Trầm và Khương Tự vẫn không gửi tới nổi một phong thư.
Có lẽ mớ hỗn độn ở kinh thành không ai gánh, sổ sách cũng đã trống sạch.
Tóm lại, chẳng ai tới đón nó.
Muốn sống ở Nhuận Châu, nó phải hạ cái giá của mình xuống, sống theo cách nơi này vẫn sống.
Đình Quân có ta làm nương, không cần chuyện gì cũng tự lo.
Còn nó thì khác, mỗi tháng ta chỉ cho một khoản cố định, củi gạo dầu muối, y phục giày tất, b.út mực giấy nghiên đều phải trừ từ đó.
Không chỉ tự giặt y phục, còn phải tự nhóm lửa nấu cơm.
Gió Nhuận Châu mang theo vị mặn như những hạt muối, mài lớp da trắng mịn của nó mỏng đi, để lộ bên dưới thứ cứng cáp hơn, chịu đựng được hơn.
Miệng nó không còn nhắc quy củ nữa, nhưng cục tức ấy vẫn mắc trong lòng.
Một ngày nọ, cuối cùng nó không nhịn được, trút giận lên một con ch.ó.
Nó đá một cước, con ch.ó lập tức bổ tới c.ắ.n c.h.ặ.t bắp chân.
Nó không coi ra gì, còn dọa Đình Quân không được nói với ta.
Nhưng đó là một con ch.ó điên.
Đến khi ta phát hiện, nó đã sợ ánh sáng, sợ nước, môi khô nứt, tròng mắt đục đi.
Là bệnh dại.
Chỉ hai ngày đã nguy kịch.
Lúc tỉnh lúc mê, mê thì gọi biểu cô, tỉnh lại nắm tay áo ta gọi nương.
Trước kia ta hận nó lạnh lùng, bây giờ lại trách bản thân ngu ngốc.
Đêm xuống, ta kê một chiếc ghế thấp ngồi trông bên giường, thay khăn suốt cả đêm.
Giữa cơn mê man, Thê Trì bỗng mềm giọng, khàn khàn hỏi: “Vì sao… người còn lo cho con? Chẳng phải người nên hận con sao?”
Ta nén nghẹn nơi cổ họng, kéo góc chăn cho nó: “Bởi vì dù thế nào ta vẫn là nương của con.”
Mềm lòng là bổn phận của một người mẹ, đau lòng vì con cũng vậy.
Thê Trì bỗng cười một tiếng, cười rồi nước mắt lại trượt xuống.
Nó nghiêng đầu, như muốn giấu đi: “Trước kia có phải… con sống quá mệt rồi không?”
Mệt.
Đến Nhuận Châu nó mới chậm rãi nhận ra.
Những thứ trước kia nó tưởng có thể chống đỡ mình, thực ra chẳng đáng một đồng.
Ánh trăng rọi qua song cửa, ranh giới sáng tối từng tấc từng tấc nhòe đi.
Ta thở dài: “Nghỉ cho tốt, đừng nghĩ nữa. Đám người con từng coi thường nhất bây giờ đang đi tìm con ch.ó điên ấy giúp con đấy!”
Một canh giờ sau, tin tốt truyền về.
Đã tìm được con ch.ó.
Sáng sớm, ta cầm con d.a.o c.h.ặ.t xương trên bếp lên.
Lưu thúc kéo bao tải vào sân, ta bổ hộp sọ con ch.ó, lấy ra một mảng óc trắng xám rồi đắp lên vết thương.
Gió đêm len qua khe cửa, Thê Trì như một tim nến sắp cháy đến tận cùng, vào khoảnh khắc cuối lại được che kín khỏi gió.
Môi nó khẽ động, nhưng không phát ra tiếng.
Ta nghĩ mùa hè ở Nhuận Châu còn rất dài.
Đủ dài để cứu một mạng người trở về, cũng đủ để một thiếu niên học được rằng sinh mệnh trên đời đều đáng được nhẹ tay buông tha.
Sau khi khỏi bệnh, cuối cùng Thê Trì cũng bắt đầu học cách trở lại làm một thiếu niên hơn mười tuổi.
Nắng chiều rơi đầy sân, phủ một lớp vàng ấm lên những cái đầu nhỏ ngồi sát nhau.
Nó ngồi dưới hành lang kể cho bọn trẻ nghe chuyện cũ ở kinh thành.
Kể ngói lưu ly trên tường cung, kể sư t.ử đá trước Thái Miếu, kể cả gánh tạp kỹ giữa phố chợ.
Ta cũng cuối cùng hạ quyết tâm, dùng toàn bộ số tiền dành dụm dựng một học xá tại đây, không thu thúc tu.
Ta còn nhờ Chu lão tiên sinh viết hai chữ treo trên cửa: Phù Chi.
