Sương Dạ Đăng - 4
Cập nhật lúc: 10/09/2026 06:03
Gió núi xuyên qua rừng tùng mang theo hơi lạnh trong trẻo.
Ta cầm lọ t.h.u.ố.c rỗng ngồi lại vào xe, khóe môi mãi không ép xuống được.
Chúng ta không đi thẳng về phía Tây Bắc.
Cố Hành Chu nói ở Giang Nam có một lô chỉ vàng dùng cho Tô thêu, vừa hay bù vào phần thiếu của Cẩm Văn Lâu, nếu ta đồng ý có thể ghé qua thương lượng trước.
Vừa nghe là ta hiểu, người này ngoài mặt làm hộ vệ, trong đầu lại chứa nửa quyển kinh doanh.
“Cố công t.ử cũng hiểu chuyện thêu trang sao?”
“Không hiểu.”
Hắn rất thành thật.
“Ta chỉ biết Nguyễn cô nương nhìn thấy sổ sách thì vui hơn nhìn thấy ta.”
Ta giơ quạt gõ nhẹ vào khung xe.
“Sao ngươi biết ta nhìn thấy ngươi không vui?”
Hắn im lặng một lúc, hạ giọng nói: “Vậy ta cố gắng thêm chút nữa.”
A Hành ngồi bên cạnh, hạt dẻ vừa bóc xong rơi thẳng vào chén trà.
Giang Nam nhiều mưa xuân, lúc chúng ta tới Tô Châu đúng vào một trận mưa bụi kéo dài.
Cố Hành Chu dẫn ta đi gặp một lão thái thái họ Chu.
Chu lão thái thái là bạn cũ của mẫu thân ta, vừa thấy ta đã sững người, sau đó nâng mặt ta lên ngắm thật lâu.
“Giống, thật giống mẫu thân con.”
Bà dẫn ta vào hậu viện, lấy từ trong tủ ra một bức thêu dang dở.
Trên đó là một ngọn đèn giữa trời sương trắng mịt mùng, dưới đèn có một tiểu cô nương đang đưa tay hứng tuyết.
“Mẫu thân con năm ấy nói, đợi nữ nhi lớn lên sẽ dạy con bé thêu ngọn đèn này.”
Chu lão thái thái thở dài.
“Bà ấy còn nói phụ thân con tay chân vụng về, đến kim cũng xâu không nổi, sau này tuyệt đối đừng để ông ấy vá áo cho con.”
Hốc mắt ta nóng lên, đầu ngón tay nhẹ nhàng lướt qua mặt thêu.
Cố Hành Chu đứng dưới hành lang, không tiến lại gần.
Đợi Chu lão thái thái đi nấu trà, hắn mới khẽ nói: “Mẫu thân cô nhất định rất nhớ cô.”
“Nếu bà còn ở đây, chắc chắn sẽ chê mũi kim của ta nổi.”
Ta hít mũi, rồi lại cười.
“Miệng bà rất kén, thật ra lại bênh người nhà nhất. Phụ thân nói hồi nhỏ ta cào hỏng một tấm Vân cẩm của bà, vậy mà bà còn mắng phụ thân để vải quá gần ta.”
Cố Hành Chu cũng cười.
“Nguyễn phu nhân rất có lý.”
Ta ở Tô Châu nửa tháng, bàn xong chuyện chỉ vàng với Chu lão thái thái, lại dùng mẫu thêu “Sương Dạ Đăng” mẫu thân để lại làm một bức bình phong mới.
Khi bình phong được đưa tới thương hội Giang Nam, mấy thương nhân vải vốn còn đứng ngoài quan sát đều đổi lời, đồng ý tiếp tục ký khế với Nguyễn gia.
Tin truyền về kinh thành, toan tính chặn đường Cẩm Văn Lâu của bá phủ lập tức thất bại.
Ta viết thư cho phụ thân, bảo ông đừng nhíu mày lo lắng nữa.
Thư hồi âm của phụ thân chỉ có một dòng: Nha đầu, phụ thân đã đòi lại khoản tiền còn thiếu của Cố gia, còn thu thêm được hai sọt quýt.
A Hành đọc xong, cười đến không đứng thẳng nổi.
Cố Hành Chu hỏi: “Hai sọt quýt có gì đáng cười?”
Ta gấp thư lại.
“Phụ thân ta ghét quýt nhất. Lần này Cố gia xem như đắc tội ông triệt để rồi.”
Từ Giang Nam tiếp tục đi Tây Bắc, thời tiết dần khô lạnh.
Cố Hành Chu không nhiều lời, nhưng mọi chuyện dọc đường đều được hắn sắp xếp thỏa đáng.
Chăn đệm khách điếm ẩm, hắn cho người mang đi hong khô; A Hành sợ ngựa, hắn để lại cho nàng con ngựa hồng táo hiền nhất; ban đêm ta xem sổ sách thắp thêm một ngọn đèn, hôm sau hắn liền mua một chiếc chụp đèn lưu ly chắn gió.
Hôm ấy chúng ta dừng ở một thành nhỏ, trên phố có người bán tranh đường.
A Hành thèm đến không nhấc chân nổi, Cố Hành Chu bèn móc tiền mua ba cái.
Chủ sạp hỏi hắn muốn vẽ gì.
Hắn nhìn ta một cái rồi nói: “Vẽ một ngọn đèn.”
Tai ta hơi nóng, cố ý nói: “Đèn thì có gì ngon.”
Hắn đưa tranh đường cho ta.
“Vậy vẽ một cành hoa hòe?”
A Hành c.ắ.n con thỏ đường của mình, nhỏ giọng lẩm bẩm: “Tên Cố công t.ử nghe thôi đã giống đang dỗ tiểu thư rồi.”
Ta trừng nàng một cái, nàng lập tức trốn ra sau xe ngựa.
Đêm xuống, Cố Hành Chu luyện đao trong sân.
Ta khoác áo ngoài đi rót nước, thấy thế đao của hắn gọn gàng dứt khoát, ánh trăng rơi trên vai, như phủ một lớp sương lạnh lên bộ đồ đen.
Lúc thu đao, hắn phát hiện ta, lập tức giấu đao ra sau lưng.
“Làm ồn đến cô sao?”
“Không.”
Ta đặt ấm trà lên bàn đá.
“Ta chỉ muốn hỏi, trước kia Cố công t.ử làm nghề gì? Một tiêu sư bình thường sẽ không bắt sống thích khách, lại còn dám đưa khẩu cung tới bá phủ.”
Hắn nhìn lá trà chìm nổi trong chén, một lát sau mới nói: “Trong nhà có người làm việc trong triều, ta theo học được chút bản lĩnh.”
“Vậy người nhà ngươi quản nghiêm không?”
“Rất nghiêm.”
Hắn đáp rất nhanh, rồi bổ sung thêm một câu.
“Nhất là huynh trưởng ta.”
Ta tưởng tượng một người có thể quản nổi Cố Hành Chu, bỗng thấy hơi tò mò.
“Đợi về kinh, thay ta cảm tạ huynh trưởng của ngươi. Vì hộ tống ta mà ngươi trì hoãn lâu như vậy, chắc huynh ấy không vui đâu.”
Cố Hành Chu nhìn ta, đôi mắt sâu thẳm.
“Huynh ấy sẽ vui.”
Ta xách ấm trà về phòng, không trêu chọc thân phận của hắn nữa.
Gió đêm lùa qua khe cửa, ta ngậm cành hoa hòe bằng đường ấy, vị ngọt dính nơi đầu lưỡi rất lâu vẫn chưa tan.
Trước khi rời Tô Châu, Chu lão thái thái giao cho ta một quyển sổ cũ.
Trong sổ kẹp mấy tờ phiếu giao dịch, ghi lại khoản tiền áo đông mẫu thân năm ấy ứng trước cho tú nương ngoài quan ải, cũng ghi một người tên Đỗ Thành từng lĩnh mấy tấm vải dầu chống nước.
