Thanh Lưu - Chương 3
Cập nhật lúc: 13/08/2026 03:01
Sao có thể chứ? Sự nổi loạn trong tôi bùng lên, tôi cầm b.út giảng cho hắn kiến thức chương đầu. Hắn ngáp, tôi gõ đầu hắn; hắn uống nước, tôi gõ đầu hắn; hắn đoán bừa, tôi cũng gõ đầu hắn.
Hắn ngạc nhiên nhìn tôi, mấp máy môi hai lần, nói: "Được đấy."
Một hôm sau đó trong lúc uống rượu, tôi hỏi hắn vì sao nhận lời mời kèm cặp của tôi, dù hắn đến trường đại học để làm nhiệm vụ, chẳng cần bận tâm đến điểm cuối kỳ. Hắn bảo vẻ mặt tôi quá thành khẩn, từ chối thì bất lương với lương tâm hắn.
"Thầy Châu."
Một giọng nữ yếu ớt cắt ngang dòng hồi tưởng. Tôi ngẩng lên, là cô học viên cao học của tôi, Hạ Tiêm Tiêm: "Có việc gì không em?"
"Bài này..." Cô ấy đưa tôi một cuốn vở, nét chữ ngay ngắn, thanh tú, "thầy có thể giảng cho em được không ạ?"
Đề bài là tô pô đại số. Tôi cầm mấy tập luận văn trên bàn: "Em mang về đọc hết chỗ này, bên trong có lời giải chi tiết, không hiểu thì hỏi lại thầy."
"Vâng ạ." Hạ Tiêm Tiêm nhận lấy rồi ngồi xuống ngay. Cô mím môi, "Em có thể ngồi đọc ở đây được không ạ? Thư viện hết chỗ, ký túc xá lại ồn quá."
"Được, em ngồi đối diện thầy đi." Tôi nói, liếc nhìn đồng hồ treo tường – bảy giờ tối, đúng giờ cao điểm của thư viện. Bình thường lúc này tôi sẽ ra sân đi bộ một chút, thư giãn rồi quay lại viết bài. Hôm nay chẳng còn chút hứng thú. Tôi đờ đẫn lật qua một trang luận văn, không lọt nổi nửa chữ vào đầu.
"Thầy... thầy Châu!"
"Hả?" Tôi nhìn Hạ Tiêm Tiêm.
"Câu này ạ." Ngón tay thon dài của cô lướt trên trang giấy, làn da trắng đến mức thấp thoáng cả những đường gân xanh, "Em, em không hiểu."
Tôi giải thích một lượt nguyên lý logic tổng thể, ánh mắt dừng lại trên vết bầm tím quanh cổ tay cô: "Va phải à?"
"Vâng ạ." Cô kéo tay áo, che đi cổ tay với vẻ giấu giếm, mắt né tránh, "Em lỡ tay ạ."
Tôi im lặng. Vết bầm hình tròn căn bản không phải dấu vết do va đập, rõ ràng là do ai đó nắm c.h.ặ.t t.a.y cô để lại. Hạ Tiêm Tiêm không muốn nói nguyên nhân, người lớn cả, tôi đương nhiên không hỏi thêm.
Hạ Tiêm Tiêm ở lại văn phòng đến chín giờ. Cô đeo ba lô lên, nói: "Em cảm ơn thầy." Tôi vẫy tay: "Đường về cẩn thận." Cô mím môi cười, để lộ một lúm đồng tiền nhỏ xíu: "Vâng ạ, tạm biệt thầy."
Ninh Thanh cũng có một lúm đồng tiền, ở bên má phải.
Sau khi tiễn Hạ Tiêm Tiêm ra khỏi phòng, văn phòng chỉ còn lại một mình tôi. Khoa Lý nhìn như một nhà kho, chất đầy tài liệu, luận văn, giấy nháp, dụng cụ vẽ, bảng đen bảng trắng, mô hình đạo cụ. Mấy thầy cô khoa khác sang đây trêu bọn tôi ngày nào cũng bày trận bàn long môn.
Những lúc không có ai, tôi càng dễ nhớ đến Ninh Thanh. Nửa tháng sau khi nhận tin anh mất, tôi sống mơ màng, lơ mơ, như một con nai bị đèn xe chiếu vào mắt, giơ chân trước lên mà chẳng biết đặt xuống nơi nào.
Tôi cố bước ra khỏi ký ức mà Ninh Thanh để lại, hít một hơi không khí trong lành. Chưa kịp phản ứng, tôi lại bị kéo vào vũng lầy, chìm sâu thêm.
Ninh Thanh nhận lời mời của tôi, một mình đến văn phòng. Lần này anh mang theo một cây b.út và hai tờ giấy A4.
Tôi hỏi anh chỗ nào không hiểu, anh mở sách Giải tích 2, lật trang đầu, nói một cách đầy tự tin: "Từ đây trở đi, đằng sau, cái gì cũng không biết."
Tôi nhìn cuốn sách, rồi ngước lên nhìn anh. Anh bật cười khúc khích: "Thầy Châu, chẳng lẽ thầy không dạy được em à?"
Anh than phiền: "Em sắp bị thầy gõ đầu cho ngu rồi."
"Vốn đã ngu rồi." Tôi nói, "Không phải tại tôi."
Anh tức giận đập bàn: "Bây giờ em giải ra bài này, chứng tỏ em không ngu."
Khoảng nửa tiếng sau, anh nói nhỏ: "Em là thằng ngốc."
"Chỗ này em viết sai rồi, là 2 chứ không phải 1." Tôi chỉ vào công thức của anh.
Anh bừng tỉnh: "Ồ ồ ồ."
"Viết nhanh lên, đồ ngốc." Tôi trêu anh. Người anh toát lên một khí chất dễ chịu, rất dễ khiến người khác trao gửi niềm tin, sức thu hút đầy gần gũi.
Anh phồng má, như một sinh viên thực thụ cặm cụi viết, thế nhưng chẳng bao lâu đã... bí không tính tiếp được.
"Em không biết." Anh chỉ vào công thức, ngẩng đầu nhìn tôi, "Cái này."
"Thêm căn, đặt nhân t.ử chung." Tôi nói.
Dần dần, tốc độ giải bài của anh nhanh hơn, như một đoàn tàu đã có đà, cứ thế là chạy tới. Thấy anh đã bắt được nhịp, tôi cầm tập luận văn bên cạnh lên đọc tiếp, thỉnh thoảng chỉ bảo vài câu.
Chim ch.óc bên ngoài cửa sổ ríu rít, anh viết say sưa, đầu b.út cọ vào mặt giấy xào xạc. Tầm mắt tôi vượt qua góc phải tờ luận văn, đậu trên những sợi tóc mai rũ xuống thái dương anh, không hiểu sao lại cất lời: "Tóc cậu dài quá, che mất mắt, xấu lắm."
Tiếng sột soạt ngừng lại, anh cong mắt, cười hỏi: "Thầy không hiểu đâu, đây là biểu hiện của khí chất u sầu."
Tôi nghiêng đầu: "Khí chất u sầu?"
"Kệ đi, con gái thích mà." Anh nói.
Tôi chế nhạo: "Cậu tưởng vẫn là năm 2010 sao? Con gái giờ chẳng còn thích mấy kiểu hoàng t.ử u sầu nữa."
"Thích kiểu giáo sư tri thức cao như thầy chứ?" Anh đưa tay, không chút khách sáo: "Kính đeo mắt của thầy cho em mượn."
Tôi đang đeo một cặp kính gọng kim loại ba trăm độ. Tháo kính ra, cả thế giới trước mắt chỉ còn những mảng lục giác nhòe nhoẹt. Tôi rút tờ giấy ăn lau sạch vết dầu trên gọng và sống mũi, đưa cho Ninh Thanh.
Anh đeo kính, dùng ngón trỏ đẩy nhẹ gọng, vẻ đắc ý hỏi: "Thế nào?"
Tôi thành thật: "Không nhìn rõ."
Anh đứng dậy, lại gần, khoảng cách vô cùng gần, gần như chạm mũi: "Thế nào?"
Tôi giật mình trước hành động của anh, hơi thở giao nhau. Tôi siết c.h.ặ.t ngón tay để kiểm soát biểu cảm khuôn mặt, thận trọng cân nhắc từ ngữ: "Tạm được."
"Không đẹp bằng thầy." Anh cụt hứng lùi ra, tháo kính trả tôi, "Sao thầy không đeo kính áp tròng nhỉ? Lãng phí đôi mắt đẹp của thầy quá."
Tôi im lặng đeo kính lại, cúi xuống nhìn bài luận để che giấu sự bối rối. Đôi mắt anh trong trẻo và rộng mở, như mặt sông Hải Hà chảy ngang qua thành phố Thiên Tân. Trong mắt tôi, đàn ông đẹp chỉ đáng để xem là tình địch, còn người bình thường thì chẳng khác gì khách qua đường. Sự xuất hiện của Ninh Thanh đã chỉ cho tôi con đường thứ ba – tôi muốn theo đuổi anh.
