Tiệm Ăn Như Ý Thành Biện Kinh - Chương 48: Tính Sổ Cuối Thu, Canh Đậu Phụ
Cập nhật lúc: 15/01/2026 13:13
Ngọn lửa trong lò phong đã lụi tàn, song nước trong siêu trà vẫn còn sôi sục, hơi nước đội nắp ấm lên, phát ra những tiếng lục bục từ bên trong.
Khương Như Ý kinh ngạc liếc nhìn vị Bùi Thiếu doãn trước mặt, không hiểu vì sao chàng lại đột nhiên hỏi về chuyện thuở nhỏ của nàng.
Nhưng rồi, suy đi nghĩ lại, chàng cũng giống nàng, đều đã mất đi song thân. Chẳng lẽ vì chốn cổ tự này hẻo lánh tịch mịch, nên chàng bỗng nhiên cảm hoài về thân thế?
Bùi Chiêu sau khi thốt ra câu hỏi ấy, chính mình cũng cảm thấy kinh ngạc.
Lần trước ở nha môn Khai Phong phủ, chàng còn sợ hỏi nhiều sẽ khơi gợi ký ức đau thương của nàng, sao hôm nay lại buột miệng hỏi ra? Phải chăng là vì nhìn thấy dáng vẻ ung dung tự tại này của nàng, nên trong lòng sinh ra chút… ngưỡng mộ?
Bùi Chiêu rủ mắt xuống: “Là ta đường đột, Khương tiểu nương t.ử nếu không muốn trả lời, thì cứ…”
Khương Như Ý lại bất ngờ cắt ngang lời chàng: “Bùi Thiếu doãn ngày thường hay ở trong thành Biện Kinh, trước đây đã từng đến những thôn xóm ngoài thành này bao giờ chưa?”
Thấy Bùi Chiêu bất ngờ nhìn về phía mình, Khương Như Ý mỉm cười với chàng.
Nàng hạ thấp giọng hỏi: “Chuyện gia phụ từng nhậm chức ở nha môn Khai Phong, Bùi Thiếu doãn hẳn là đã biết rồi?”
Bùi Chiêu gật đầu: “Đường công từng nhắc với ta về chuyện của Khương… bá phụ.”
Khương Như Ý nghe chàng gọi cha mình như vậy, không khỏi nhìn chàng thêm một cái. Thấy ánh mắt chàng đang chăm chú nhìn mình, Khương Như Ý mím môi, thu lại tầm mắt.
Nàng tiếp tục nói: “Gia phụ ngày thường rất thích uống rượu, đặc biệt là thích uống mấy loại rượu thôn quê tự ủ. Không chỉ là thôn xóm ngoài thành, mà bao gồm cả đạo quán và chùa chiền, hễ nơi nào có rượu mới ủ, người đều phải tìm mua một vò mang về, lôi kéo a nương cùng nếm thử.”
Khương Như Ý vừa nói vừa nháy mắt với Bùi Chiêu, hạ thấp giọng bổ sung: “Có điều, ngôi chùa mà ta nói không phải là nơi này, không tính là mạo phạm thần phật đâu.”
Bùi Chiêu nghe trong lời nói của nàng có chút ý vị tinh quái, cũng không kìm được mà mỉm cười theo. Chốn hương dã, mùa thu đông vắng vẻ lạnh lẽo, các hòa thượng tự mình ủ chút rượu ngũ cốc để làm ấm người cũng là chuyện thường tình.
Thấy chàng gật đầu, Khương Như Ý tiếp tục hồi tưởng lại chuyện thuở nhỏ, trên gương mặt dần hiện lên ý cười.
“A nương không thích uống rượu cho lắm, nhất là mấy loại rượu quê cha mang về. Có loại còn uống được, có loại lại có mùi vị kỳ quái. Đương nhiên, cũng có số ít lần nếm được loại mỹ t.ửu hiếm có, nhưng đa phần mùi vị đều chẳng ra sao.”
“A nương liền trách cha, chút bổng lộc phát xuống đều tiêu hết vào mấy thứ rượu này, nhưng lần nào cũng dung túng cho người mua. Cho dù có tức giận, thì sang ngày hôm sau đã bị cha dỗ dành cho nguôi ngoai rồi.”
Bùi Chiêu nghe Khương Như Ý kể, khóe môi nở nụ cười nhàn nhạt. Nghe nàng kể chuyện, chàng có thể tưởng tượng ra tình cảm của phu thê Khương bá phụ cực kỳ thắm thiết, cuộc sống trôi qua cũng rất êm đềm.
Chàng lại mở miệng hỏi: “Vậy còn Khương bá phụ? Không có lúc nào biết tém tém lại sao?”
Khương Như Ý nghiêng đầu, nghiêm túc suy nghĩ một chút, sau đó lắc đầu: “Cũng không phải là không có. Mỗi khi a nương oán trách cha, cha liền cười bảo rằng, bản thân có một nếp nhà đơn sơ, có một đôi thê nữ, trong lòng đã cảm thấy mãn nguyện lắm rồi. Có điều từ khi ta lớn hơn một chút, số lần cha mua rượu cũng ít đi nhiều, nói là muốn để dành tiền, tích góp của hồi môn cho ta.”
Trong tâm trí Khương Như Ý dường như hiện lên bóng hình cao lớn anh tuấn ấy, người bế bổng cô con gái nhỏ lên, cất tiếng cười sảng khoái: “A Ý nhà ta càng lớn càng xinh đẹp, đợi sau này trưởng thành, nhất định sẽ là một mỹ nhân giống hệt mẫu thân con. Từ nay về sau cha không uống rượu nữa, tiền bạc tiết kiệm được đều giữ lại làm của hồi môn cho A Ý.”
Khương Như Ý nói đến đây, càng nghĩ mũi càng cay cay.
Chỉ tiếc là, sau một trận tai họa, cha và nương đều song song qua đời, ngay cả căn nhà cũng bị thiêu rụi.
Khương Như Ý ngừng lời, đưa tay quẹt nhẹ khóe mắt, trước mặt lại xuất hiện một chiếc khăn tay màu xanh. Khương Như Ý do dự một chút, cuối cùng vẫn đưa tay nhận lấy.
Trong mắt Bùi Chiêu lộ ra vẻ áy náy, chàng đứng dậy khỏi ghế đá, trịnh trọng thi lễ với Khương Như Ý: “Là ta đường đột, khiến Khương tiểu nương t.ử gợi lại chuyện đau lòng.”
Khương Như Ý lắc đầu, nàng cẩn thận gấp chiếc khăn đã dùng xong lại rồi cất đi, sau đó cũng đứng dậy phúc thân đáp lễ Bùi Chiêu.
“Đa tạ khăn tay của Bùi Thiếu doãn, đợi về giặt sạch sẽ rồi, ta sẽ hoàn trả lại cho Thiếu doãn.”
“Ừm.”
Hai người nói xong những lời này thì nước lá trúc trong chén cũng đã uống cạn. Khương Như Ý nhớ tới A Thược và Tề Phi đang ở bên ngoài, bèn xách theo nửa siêu nước còn lại, định đi ra khỏi chùa.
Bùi Chiêu mở lời: “Nghe nói cơm chay trong ngôi chùa này mùi vị không tệ, Khương tiểu nương t.ử đã ra ngoài du ngoạn một chuyến, hay là nếm thử cơm chay rồi hãy về?”
Khương Như Ý ngẫm nghĩ, cũng cảm thấy hiếm khi được ra ngoài chơi một chuyến, ăn xong cơm trưa rồi về cũng không muộn. Nàng gật đầu: “Đa tạ Bùi Thiếu doãn đã cho hay.”
Bùi Chiêu ôn tồn cười: “Khương tiểu nương t.ử không cần khách khí, xin cứ tự nhiên.”
Chàng lùi lại nửa bước sang bên cạnh, nhường đường cho Khương Như Ý. Khương Như Ý gật đầu với Bùi Chiêu, sau đó xách theo nước lá trúc rời đi.
Đợi khi ra khỏi cổng chùa, quay lại bên bờ suối, đã thấy A Thược và Tề Phi từ rừng bia đá trở về.
Thấy Khương Như Ý xách đồ uống về, A Thược vội vàng chạy tới đón lấy, bảo Tề Phi bày chén ra, rót từ trong siêu ra ba chén nước.
Hôm nay mang theo dư dả chén bát, ngoại trừ mấy chiếc chén Khương Như Ý mang vào trong chùa lúc nãy, bên ngoài vẫn còn ba chiếc, vừa khéo mỗi người một chén.
Khương Như Ý chỉ vào chén nước, nhắc nhở A Thược và Tề Phi: “Vừa mới nấu xong đấy, uống từ từ thôi, cẩn thận kẻo bỏng.”
A Thược nghe Khương Như Ý nói vậy mới ngó vào trong chén, tò mò hỏi: “Ủa, tiểu thư vừa nãy không có ở đây, hóa ra là vào trong chùa nấu nước lá trúc này sao?”
Khương Như Ý “ừm” một tiếng đơn giản coi như trả lời. Nhớ tới chuyện vừa nãy chạm mặt Trang Tam nương và Bùi Thiếu doãn, nàng nghĩ tốt nhất không nên kể cho bọn A Thược nghe thì hơn.
Nghĩ đến đây, Khương Như Ý lại chỉ tay về hướng rừng bia đá, hỏi A Thược: “Các em vừa nãy vào rừng bia, chơi có vui không?”
Vừa nhắc đến chuyện này, A Thược liền xệ mặt xuống: “Chẳng thú vị chút nào cả, trong rừng bia tuy trồng không ít cây ngân hạnh, nhưng lá cây vẫn chưa vàng, sớm biết thế này em đã đi theo tiểu thư nấu nước lá trúc rồi.”
Khương Như Ý nghe A Thược ca thán, không nhịn được mà bật cười thiếu đòn.
A Thược thấy tiểu thư cười vui vẻ, đột nhiên phản ứng lại điều gì đó, kinh ngạc nhìn nàng hỏi: “Tiểu thư đã biết trước là cây ngân hạnh bên trong chưa chuyển vàng rồi đúng không?”
Khương Như Ý cười gật đầu, sau đó đưa tay chỉ về phía rừng phong đỏ đằng xa. Nghĩ đến chuyện mình và A Thược, hai người trước sau đều bị hai cánh rừng khác nhau lừa một vố, nàng không khỏi cười khổ.
A Thược nghe xong lời Khương Như Ý, dậm chân giận dỗi: “Tiểu thư còn cười nữa.”
Khương Như Ý thấy cô bé bĩu môi, vội vàng nín cười, dỗ dành: “Thôi được rồi, tuy không thấy phong đỏ và ngân hạnh, nhưng cũng coi như thưởng thức được cảnh thu. Hơn nữa, nghe nói cơm chay trong chùa khá ngon, lát nữa chúng ta vào chùa ăn cơm xong rồi hãy về.”
A Thược vừa nghe được ăn cơm chay, liền vui vẻ đồng ý ngay. Tề Phi có chút bất lực nhìn A Thược, lại nhìn Khương Như Ý, cảm thấy bản lĩnh dỗ người của tiểu thư quả thực lợi hại.
Ba người uống thêm một lúc nước lá trúc, ngồi bên bờ suối ngắm mấy chú cá bạc bơi lội, Khương Như Ý lấy từ trong hộp thức ăn ra mấy miếng mứt quả để ăn. Đợi ba người chơi đủ rồi mới thu dọn t.h.ả.m và hộp thức ăn, đi vào trong chùa.
Trong trai đường đã có lác đác vài bàn du khách ngồi ăn, đang thì thầm cười nói.
Khương Như Ý dẫn theo A Thược và Tề Phi tìm một chiếc bàn gỗ trống ngồi xuống, vừa ngẩng đầu lên lại tình cờ nhìn thấy Bùi Chiêu ở cách đó không xa.
Nàng đưa mắt nhìn quanh một vòng, không thấy bóng dáng vị Trang Tam nương kia đâu, không biết có phải vì bị vị Bùi Thiếu doãn này vô tình từ chối nên đã đặc biệt tránh mặt hay không.
Bùi Chiêu cũng nhìn thấy Khương Như Ý, từ xa gật đầu chào nàng.
Khương Như Ý cũng gật đầu đáp lễ, sau đó thu hồi tầm mắt.
A Thược cũng nhìn thấy Bùi Thiếu doãn, không nhịn được hỏi Khương Như Ý: “Tiểu thư, tiểu thư nhìn kìa, sao hôm nay Bùi Thiếu doãn cũng ở đây vậy?”
Khương Như Ý khẽ ho một tiếng, trả lời: “Có lẽ là trùng hợp thôi.”
“Thật sao?”
A Thược nghe vậy chớp chớp mắt: “Sao em cứ cảm thấy, tiểu thư và Bùi Thiếu doãn dường như có duyên phận đặc biệt thế nào ấy nhỉ?”
Ba người đang nói chuyện thì tăng nhân đã bưng cơm chay tới, ba món mặn một món canh đơn giản, kèm theo ba bát cơm mạch, tất cả đều là đồ chay, nhìn qua vô cùng thanh đạm sạch sẽ.
Khương Như Ý vội vàng lảng sang chuyện khác, cầm đôi đũa tăng nhân đưa tới nhét vào tay A Thược: “Duyên với chả phận cái gì, mau ăn đi, kẻo một lát nữa nguội bây giờ.”
A Thược nhìn cơm canh trên bàn, sự chú ý lập tức bị thu hút, cũng không nghĩ ngợi nhiều nữa, gắp một miếng củ sen lên ăn. Ngược lại là Tề Phi, hắn nhìn Khương Như Ý thêm một cái, hơi nhíu mày đầy vẻ nghi hoặc.
Hương vị bữa cơm này quả thực không tệ, tuy chỉ là rau xanh đậu phụ, nhưng không biết có phải nhờ phối với nước suối chốn cổ tự ngoại thành hay không mà Khương Như Ý cảm thấy bữa cơm này ăn cực kỳ có hương vị.
Đặc biệt là món canh đậu phụ kia, đậu phụ tươi mềm trơn tuột, bên trong không biết cho thêm loại rau xanh gì, thái thành vụn nhỏ li ti, khi nhai cảm giác rất dày dặn, trong vị thanh hương lại hơi vương chút đắng nhẹ, mùi vị vô cùng đặc biệt.
Đợi ba người ăn xong bữa cơm, lại dạo quanh trong chùa một vòng mới lưu luyến rời đi.
Khi đi qua cổng chùa, Khương Như Ý còn cố ý quay đầu lại nhìn về phía cửa hông, phát hiện chiếc xe ngựa tinh xảo cầu kỳ đậu lúc trước đã không còn nữa. Trên mặt nàng lúc này mới lộ ra vẻ vỡ lẽ muộn màng.
Hóa ra không phải đến ngoại ô thắp hương, mà là để “tình cờ gặp gỡ” người ta.
A Thược tò mò nhìn nàng: “Tiểu thư đang nhìn gì thế?”
Khương Như Ý quay đầu lắc lắc với A Thược: “Không có gì, giờ không còn sớm nữa, chúng ta về thôi.”
Ba người cùng lên xe ngựa, kiểm kê lại vật dụng mang theo để tránh bỏ sót, sau đó mới đ.á.n.h xe quay về thành Biện Kinh.
…
Khi về đến cửa thực điếm, đã có khách khứa chờ đợi mòn mỏi bên ngoài.
Vừa thấy ba người Khương Như Ý trở về, mắt mấy vị thực khách lập tức sáng rực lên, rảo bước đi về phía nàng.
“Khương tiểu nương t.ử, cuối cùng các vị cũng về rồi, nếu còn không về, cái miếu ngũ tạng của ta chắc phải làm loạn lên mất.”
“Khương tiểu nương t.ử nói đóng cửa nửa ngày, sao đến giờ này mới về? Nhưng mà về là tốt rồi, về là tốt rồi, Khương tiểu nương t.ử, giờ mở cửa được chưa?”
Khương Như Ý nghe những lời mong ngóng tha thiết của thực khách, vội vàng mỉm cười áy náy với mọi người.
Nàng mở lời: “Thật xin lỗi vì hôm nay về trễ một chút, để quý khách đợi lâu rồi. Mời quý khách ngồi đợi một lát, nguyên liệu trong bếp đã chuẩn bị sẵn sàng, món kho tộ sẽ có ngay thôi.”
Khách khứa nghe Khương Như Ý nói vậy liền gật đầu lia lịa, tìm chỗ ngồi quen thuộc ngày thường để an tọa. Khương Như Ý bảo A Thược ra sau viện cất đồ, còn mình và Tề Phi cùng vào bếp.
Do Khương Như Ý đã đoán trước sẽ có khách đến đợi, nên sáng sớm nay nàng đã bảo Tề Phi chuẩn bị sẵn các nguyên liệu dùng cho món kho tộ, giờ bắt tay vào làm tiết kiệm được rất nhiều công đoạn.
Trong bếp, Khương Như Ý và Tề Phi cùng nhau bận rộn, rất nhanh đã đặt nồi đất lên bếp lò, bắt đầu hầm.
Cũng may lúc này khách đến chưa nhiều, nguyên liệu chuẩn bị trước vẫn đủ dùng. Đợi nồi đất trên bếp hầm xong, Khương Như Ý dùng khay dày bưng lên, đưa đến tận bàn cho khách.
A Thược đã cất đồ xong xuôi ở hậu viện, bước nhanh vào hỏi Khương Như Ý: “Tiểu thư, cần em làm gì không?”
Khương Như Ý chỉ tay ra ngoài bếp, nói: “Em ra ngoài trông tiệm đi, trong bếp có ta và Tề Phi là đủ rồi.”
“Dạ.”
A Thược đáp một tiếng, vội vàng vén rèm đi ra ngoài.
Tề Phi thấy Khương Như Ý xắn tay áo lên cao, dường như định nấu nướng gì đó, bèn thắc mắc nhìn nàng: “Tranh thủ lúc này chưa bận rộn, tiểu thư không ra sau viện nghỉ ngơi chút sao?”
Khương Như Ý xua tay với hắn, bảo hắn cứ làm việc của mình.
Nàng vớt một miếng đậu phụ từ trong chậu nước sạch bên cạnh ra.
Món canh đậu phụ ăn trong chùa hôm nay đã khơi dậy cơn thèm đậu phụ của nàng, nhưng nàng cứ cảm thấy món ăn trong chùa thiêu thiếu thứ gì đó, nên muốn tự mình làm thử.
Khương Như Ý định làm món Văn Tư đậu phụ, trong đó điều cầu kỳ nhất chính là thái sợi đậu phụ.
Khương Như Ý cắt bỏ hết lớp vỏ cứng bốn mặt của miếng đậu phụ, sau đó bắt đầu thái sợi một cách cẩn thận. Thái đậu phụ là công việc đòi hỏi sự kiên nhẫn và tỉ mỉ, d.a.o dùng cũng phải thật sắc bén mới có thể thái ra những sợi đậu phụ mảnh như sợi tóc, ăn một miếng cảm nhận được sự trơn mềm và tinh tế.
Kiếp trước, Khương Như Ý từng xem cuộc thi chuyên về thái đậu phụ. Chỉ thấy trong tay đầu bếp, nhìn qua thì không có gì đặc biệt, nhưng đến khi thả đậu phụ đã thái vào nước, từng sợi từng sợi mảnh như tóc lập tức bung ra trong nước, trắng muốt phiêu dật, tựa như một đóa hoa trắng đang nở rộ, kỹ nghệ khéo léo như đoạt công của tạo hóa.
Kỹ thuật dùng d.a.o của Khương Như Ý đương nhiên không sánh bằng đầu bếp chuyên nghiệp, nhưng được cái nàng tỉ mỉ, hơn nữa số lượng thái cũng không nhiều.
Đợi khi thái xong miếng đậu phụ này thả vào nước, không chỉ Khương Như Ý vô cùng hài lòng, mà ngay cả Tề Phi cũng sáp lại gần, không kìm được trầm trồ vài tiếng.
Khương Như Ý để đậu phụ đã thái sang một bên, lại thái sợi nấm hương và măng, sau đó lấy một miếng ức gà non, cũng thái thành sợi gà nhỏ xíu.
Nàng bắc nồi đun nước trên bếp, chần sơ sợi đậu phụ một lần để khử mùi tanh của đậu, sau đó cho nước luộc gà vào nồi, lại thả các loại nguyên liệu thái sợi vào trong canh. Đợi nước sôi lại lần nữa, nàng nêm vào một nhúm muối nhỏ. Vậy là một nồi Văn Tư đậu phụ mềm mại trơn mượt, hương vị thơm nồng thanh khiết đã hoàn thành.
Tiếp đó, không chỉ ba người Khương Như Ý, Tề Phi và A Thược, mà ngay cả các thực khách đang ăn trong tiệm, mỗi người đều được tặng một bát nhỏ Văn Tư đậu phụ này.
Các thực khách vốn vừa ăn xong món kho tộ tươi ngon, đang l.i.ế.m môi thòm thèm, định gọi thêm chút đậu phụ khô ngũ vị hương để ăn chơi.
Khi bát Văn Tư đậu phụ trắng muốt như tuyết này được bưng lên, mọi người đều tò mò húp thử một ngụm, lập tức bị hương vị tươi ngon chinh phục. Lại nhìn những sợi đậu phụ mảnh như sợi tóc kia, ai nấy đều gật đầu tán thưởng không ngớt.
Khương Như Ý nhận được lời khen của khách, bản thân cũng thỏa mãn cơn thèm, vô cùng hài lòng quay về sau quầy.
Đợi đến chiều, đợt khách này ăn xong rời đi, Khương Như Ý bảo A Thược và Tề Phi ra sau nghỉ ngơi, còn mình thì trông tiệm.
Chợt thấy bên ngoài có hai chiếc xe ngựa chạy qua, Khương Như Ý đang cảm thấy hơi quen mắt thì thấy hai vị nữ lang quen mặt bước vào. Người đi đầu tiên, thế mà lại là Trang Tam nương đã gặp ở ngôi chùa ngoại thành hồi sáng.
Khương Như Ý nhìn vị tiểu nương t.ử đang nghiêm mặt bước vào này, có chút bất lực bĩu môi. So ra thì vị Đinh Ngũ nương mặc áo hồng bên cạnh nàng ta trông kiều diễm dễ thương hơn nhiều.
Trang Tam nương liếc mắt một cái đã thấy Khương Như Ý sau quầy, nàng ta nói với tì nữ sau lưng: “Chính là quán này, các ngươi ra ngoài đợi hết đi, ta và Ngũ nương ở đây là được rồi.”
Khương Như Ý nhìn đám người rầm rập đi vào rồi lại rầm rập đi ra, trong tiệm chỉ còn lại hai vị quý nữ này, nàng có chút ngạc nhiên chớp mắt. Nhìn cái điệu bộ này, vị Trang tiểu nương t.ử này không phải là dẫn theo bạn thân đến để “tính sổ cuối thu” đấy chứ?
Khương Như Ý hồi tưởng lại lúc ở trong chùa, quả thực nàng cũng chẳng nghe thấy gì, bèn nhún vai đầy vô tội.
Nàng nở một nụ cười, đi đến trước chiếc bàn hai người đang ngồi, chủ động mở lời: “Hoan nghênh hai vị nữ lang quang lâm. Không biết hai vị đến giờ này là muốn dùng bữa chính, hay chỉ ăn chút điểm tâm và đồ uống?”
Đinh Ngũ nương thấy chủ nhân quán ăn nhỏ này là Khương tiểu nương t.ử, ngạc nhiên thốt lên một tiếng “A”.
Trang Tam nương liếc nhìn Khương Như Ý một cái, sau đó lạnh lùng nói: “Chỉ ăn chút gì đó thôi, chủ quán cứ xem mà dọn lên.”
Khương Như Ý nghe yêu cầu của vị Trang tiểu nương t.ử này, mỉm cười đầy thiện chí với nàng ta, rồi xoay người vào bếp.
Lát sau, đồ ăn được bưng lên bày kín cả bàn, trong đó không thiếu những món đắt tiền như bánh nếp mặn và chè nhãn ngân nhĩ.
Bát chè nhãn ngân nhĩ được hầm sánh đặc, trơn mượt, đựng trong chén hoa sứ trắng tinh xảo, lại là món tráng miệng trước đây chưa từng thấy bao giờ.
Đinh Ngũ nương vội vàng cầm thìa múc một ngụm, chỉ thấy hương vị thơm ngon ngọt ngào, không kìm được tán thưởng với Khương Như Ý: “Món tráng miệng này Khương tiểu nương t.ử hầm ngon quá, trông cũng đẹp mắt nữa.”
Trang Tam nương nghe lời Đinh Ngũ nương, sắc mặt càng khó coi hơn.
Nàng ta ngẩng đầu lên nói với Khương Như Ý: “Hôm nay ở ngôi chùa ngoài thành, Khương tiểu nương t.ử vậy mà cũng có mặt, thật là khéo.”
Khương Như Ý nghe giọng điệu này biết ngay nàng ta đến để tính sổ chuyện cũ, trong lòng có chút bất lực, nhưng ngoài mặt vẫn giữ nụ cười.
Khương Như Ý gật đầu: “Quả thực là trùng hợp. Hôm nay là ngày Thu Xã, nghe nói rừng phong ở vùng đó phong cảnh rất đẹp, nên hôm nay ta tranh thủ lúc rảnh rỗi, mộ danh đến xem thử. Nghĩ chắc Trang tiểu nương t.ử hôm nay cũng là ra ngoại thành ngắm lá phong nhỉ?”
Trang Tam nương nghe Khương Như Ý nói vậy, sắc mặt mới dịu đi đôi chút.
Hồi lâu sau nàng ta mới gật đầu: “Khương tiểu nương t.ử nói rất phải, nói như vậy thì đúng là trùng hợp thật.”
Khương Như Ý chỉ mỉm cười gật đầu, không đợi nàng ta nói thêm gì nữa, trực tiếp xoay người rời đi.
Theo Khương Như Ý thấy, ngôi chùa kia đâu phải là chốn tư gia, đã chọn nói chuyện ở đó thì phải chấp nhận khả năng bị người khác nghe thấy. Chẳng lẽ, một ngôi chùa to lớn như vậy, chỉ cho phép một mình nàng ta là khách hành hương hay sao?
Thế thì e là… cũng quá bá đạo rồi.
