Từ Khước - Chương 5
Cập nhật lúc: 22/06/2026 15:04
Hắn gầy đi trông thấy, xương gò má đều nhô hẳn ra, quần áo khoác trên người trống rỗng lỏng lẻo, như thể một chiếc áo bào đang chống đỡ một cái bóng.
Ta lo hắn học đến ngốc người, nhưng ta lại càng lo hắn không dụng tâm học.
Điều duy nhất ta có thể làm, chính là đem đồ ăn thức uống làm cho khá hơn chút nữa, mỗi ngày thay đổi đủ kiểu học cách hầm canh cho hắn uống.
Không mua nổi cả con gà, thì mua xương gà về hầm canh; không mua nổi cá to, thì mua cá nhỏ hầm cho thật nhừ, vớt sạch xương ra rồi cho hắn uống.
Ta còn tằn tiện tiền đến tiệm t.h.u.ố.c bắc trên trấn mua ít kỷ t.ử, táo đỏ, hoàng kỳ, mỗi lần hầm canh đều thả vào một nắm.
Bản thân ta thì chẳng ăn uống gì mấy.
Mỗi bữa cơm ta chỉ húp một bát cháo loãng, kèm với dưa muối, đem bánh bao và thức ăn đều để dành cho hắn.
Bích Đào nhìn thấy cảnh ấy, sốt ruột đến nỗi trên miệng mọc đầy mụn rộp.
“Ta không đói,” Ta nói, “Ăn nhiều quá dễ buồn ngủ, còn phải làm việc nữa.”
Ta nói đều là lời thật lòng, ta xác thực không cảm thấy đói, hay phải nói là, ta đã quen với cái cảm giác trống rỗng cồn cào trong bụng ấy rồi.
Quen với những vết nứt nẻ trên tay do tê cóng gây ra, quen với việc trời còn chưa sáng đã dậy nhóm lửa nấu cơm, quen với việc ngồi dưới ngọn đèn dầu thêu khăn tay đến khi ngón tay tê cứng, quen với việc tính toán chi li từng đồng từng đồng một.
Thỉnh thoảng ta sẽ nhớ lại những ngày tháng trước kia khi còn ở nhà mẹ đẻ.
Lúc ấy mười đầu ngón tay ta chưa từng chạm vào nước xuân, quần áo có nha hoàn giặt, cơm nước có đầu bếp lo, mùa đông có chậu than, mùa hè có chén nước đá.
Khi mẹ ta còn sống, ta đến cả cây kim thêu còn chưa từng sờ qua, mỗi ngày chỉ học cầm kỳ thi họa, nuôi dưỡng được một đôi tay còn non mềm hơn cả đậu phụ.
Nhưng những ngày tháng ấy dường như đã cách xa ta cả một kiếp người rồi.
Bây giờ ta sờ đôi tay mình, thô ráp như giấy nhám, trong kẽ móng tay vĩnh viễn còn đọng lại bột mì rửa không sạch.
Đêm Giao thừa, ta dùng chút bột mì trắng cuối cùng gói một nồi sủi cảo, nhân là bắp cải, không có thịt.
Ta lại dùng bột khoai lang hấp một khay bánh, rắc lên mấy hạt táo đỏ, coi như là bánh năm mới.
Cây táo tàu trong sân trụi lủi, ta lấy giấy đỏ cắt thành hình những bông hoa nhỏ dán lên cửa sổ, lại đem chiếc bình sứ xanh lau cho sáng bóng, cắm vào một cành lau sậy vừa bẻ ở bờ sông.
Chu Trừng từ thư phòng bước ra, nhìn thấy những bông hoa giấy đỏ trên cửa sổ, sửng sốt một chút, hỏi: “Nàng cắt đấy à?”
“Ừ, lúc nhỏ học theo mẹ đấy.” Ta bưng sủi cảo lên bàn, tiện miệng hỏi, “Đẹp không?”
Hắn không trả lời đẹp hay không đẹp.
Ta tưởng hắn không thích, trong lòng có chút hụt hẫng.
Ăn cơm xong ta đi thu dọn bát đũa, đột nhiên phát hiện trên cửa sổ thư phòng cũng dán mấy đóa hoa giấy đỏ, cắt còn tinh xảo hơn ta gấp bội, cánh hoa từng lớp từng lớp chồng lên nhau, nhụy hoa còn dùng mực chấm những chấm đen, sống động như thật.
Ta đứng ở cửa thư phòng, nhìn mấy đóa hoa giấy ấy, khóe miệng cong lên rồi lại cong lên, cuối cùng xoay người đi, giọng nói nhàn nhạt buông một câu: “Ăn cơm xong rồi, nên đọc sách thôi.”
Tối hôm đó, Bích Đào đến Quý phủ tìm mấy tiểu thư tỷ muội trước đây của muội ấy đi dạo chợ đêm rồi.
Ta và Chu Trừng sóng vai ngồi trong nhà chính để thủ tuế.
Lửa trong lò cháy rừng rực, hắt lên mặt hai người đỏ bừng.
Ta trên tay làm chỉ thêu, hắn trên tay cầm sách, chẳng ai nói câu nào, nhưng sự yên tĩnh ấy khiến người ta cảm thấy thật vững tâm, giống như giữa ngày đông tháng chạp được đắp một chiếc chăn bông thật dày, bên ngoài gió tuyết có lớn thế nào cũng chẳng sợ.
Gần đến giờ Tý, hắn chợt buông sách xuống, nói một câu không đầu không cuối: “Nương ta trước kia cũng biết cắt hoa dán cửa sổ.”
Cây kim trong tay ta khựng lại một chút.
“Bà ấy cắt còn đẹp hơn ta, lúc ta còn nhỏ mỗi dịp năm mới, bà ấy có thể dán kín cả gian phòng bằng hoa dán cửa sổ, phượng hoàng, mẫu đơn, cá chép vượt vũ môn, thứ gì cũng biết cắt. Sau này bà ấy đổ bệnh, không còn cắt nổi nữa, bèn dạy ta cắt. Bà ấy nói, sau này có vợ rồi, thì năm mới sẽ cắt cho vợ xem.”
Giọng hắn dần dần trầm xuống, thấp đến mức gần như không nghe thấy: “Nhưng bà ấy đã không chờ được đến ngày ta cưới vợ.”
Ta đặt kim chỉ xuống, nhìn sườn mặt của hắn.
Ánh lửa bập bùng nhảy múa rọi lên mặt hắn, chập chờn lúc sáng lúc tối, như thể chiếu cho vẻ mặt của hắn cũng lúc tỏ lúc mờ.
Ta không nói ra được những lời an ủi người khác, cuối cùng chỉ đưa tay ra, đặt lên mu bàn tay hắn đang đặt trên đầu gối, nhẹ nhàng, thật c.h.ặ.t mà nắm lấy một cái.
Hắn cúi đầu nhìn bàn tay ta.
Đó là một bàn tay thô ráp, đốt ngón tay sưng đỏ, chi chít những vết nứt nhỏ li ti.
Hắn nhìn rất lâu, rồi sau đó nắm ngược lại tay ta, lòng bàn tay nóng rực.
Chu Trừng đối xử với ta rất tốt.
Tốt đến mức thỉnh thoảng ta sẽ nghĩ, rốt cuộc hắn thật lòng thích ta, hay chỉ là cảm kích ta chăm sóc cơm ăn áo mặc cho hắn.
Nhưng ta rất nhanh đã bóp c.h.ế.t cái ý niệm này.
Ân ái trong những ngày tháng nghèo khổ, sao có thể chịu nổi sự tra hỏi như vậy.
Nhưng cái ý niệm ấy cứ như con gián trong khe bếp lò, ngươi tưởng nó đã c.h.ế.t rồi, nhưng mỗi khi nửa đêm nó lại bò ra.
5
Tháng Giêng vừa qua, hắn bèn khởi hành lên kinh dự thi.
Ta tiễn hắn đến Trường Đình ngoài trấn, trong tay nải nhét hai bộ quần áo sạch để thay, một xấp lương khô, ba lượng bạc vụn.
Ta đưa tay nải cho hắn, lại chỉnh lại cổ áo giúp hắn, lùi về sau một bước nhìn ngắm, gật gật đầu: “Đi đi.”
Hắn đeo tay nải đứng trong gió sớm, tà áo dài vải xanh bị gió thổi bay phần phật.
Hắn nhìn ta, nhìn rất lâu, lâu đến nỗi ta tưởng rằng hắn sắp nói ra những lời sướt mướt nào đó, trong lòng đã chuẩn bị tâm lý sẵn sàng.
Vậy mà cuối cùng hắn chỉ nói một câu: “Ta đi đây.”
